c. Trần Xuân An - Hát chiêu hồn mình - Tệp 3

  trần xuân an

author's

copyright

hát chiêu hồn mình

tập thơ

Nxb. Đồng Nai, 1992

06/30/09

 

 

Phần 1

 

Phần 2

 

Phần 3

 

 

                             

        

   

 

TRẦN XUÂN AN

 

 

 

 

HÁT

CHIÊU HỒN

MÌNH

 

thơ

( phần 3 )

 

 

NHÀ XUẤT BẢN ĐỒNG NAI

1991

 

 

 Xem

http://tranxuananthitap2.blogspot.com/

 

 

 

NGẬM NGÙI

CHIỀU ĐỊA ĐÀNG

 

                                tặng Hồ Nhất Luân

 

1. Cảm thức chiều tà

 

anh dừng chân giữa cầu Ngang

ngẩn ngơ bát ngát bạt ngàn vườn xanh

thoảng trong hương đất ngọt lành

à ơi tiếng gió dỗ dành hát ru

 

anh từ khói đặc bụi mù

về đây cởi được hồn tù, lang thang

băng qua mấy nẻo địa đàng

lá nghiêng cành, cỏ dịu dàng níu chân

 

nao nao mương rạch bâng khuâng

triều vơi, con nước phân vân, chưa về

đi theo ngọn gió hồn quê

nào đâu rào chắn ngăn chia tình người

 

thèm nhìn quả rụng quả rơi

dẫu mùa chín ngọt qua rồi hương xưa

chút tình dù sớm dù trưa

vườn chờ bỏ ngỏ, nắng mưa vẫn hồng…

 

2. Mộng du với huyền tượng

 

chiều rồi, ngơ ngác ngóng trông

trăng xa… (con nước đang ròng, xuồng ơi!)

cam đành về phố phường thôi

ngậm ngùi chi thoáng rong chơi hỡi chiều

 

ước gì anh lại biết yêu

ôm em với cả Lái Thiêu vào lòng…

E-và đánh thức A-dong (*)

hái liều trái cấm (*) thơm nồng, dù cho…

 

bật cười, chớm mộng điên rồ

địa đàng lụi tắt, giọng hò chơi vơi

trăng hồng hoang cũng mù khơi

anh về, đêm đã xuống rồi, xa kia…

 

                                            1991

 

Cước chú bài Ngậm ngùi chiều địa đàng:

(*) Eve (Eva) và Adam, theo cách phiên âm của Kinh thánh cũ là E-và và A-dong. Cũng theo đó và từ đó, trong chương Sáng thế kí, hai nhân vật nguyên thuỷ của nhân loại này cùng với địa đàng, trái cấm là huyền tượng khởi nguyên (hình tượng huyền thoại khởi thuỷ), do dân tộc Do Thái tưởng tượng ra để giải thích nguồn gốc loài người.

 

 

 

 

PHO TƯỢNG

THIẾU NỮ KHOẢ THÂN BUỒN

 

trong ngần thánh khiết nhường kia

và thơm ngát thon tròn chín mọng

và em, với áo lụa bay, rất đỗi thực,

                        vẫn như là khát vọng

đến ngồi bên pho tượng giữa trưa hè

 

gió công viên ngút ngát cơn mê

pho tượng bất ngờ toả sáng

tôi mê đắm, bỗng run lên trước mơ hồ

                                           vết rạn

không phải tình cờ?

         nghệ sĩ tạo hình ra nỗi mong manh?

 

đất sét trắng và đôi tay khổ công nhào nặn

                                           đầy phước lành

nhưng với tôi, giây phút này,

               em mang tới linh hồn cho tượng

và vết nứt mơ hồ không là huyễn tưởng

                                   cho lòng bình tâm?

 

vết rạn nứt là mưa nắng tháng năm?

là cái choáng đớn đau chát đắng?     

pho tượng trắng ngời. Em. Và vết rạn   

biết đâu là ngọn nguồn bẩm sinh?

 

tôi tiếc nuối cúi xuống trái tim mình

bao nhiêu chắt chiu!

            đời đang chết dần huyền ảo 

lòng ráo hoảnh. Ngoài kia, phố phường huyên náo

pho tượng khoả thân trên nỗi buồn tôi

                       với niềm rạn nứt tật nguyền.

 

                                                   1992     

 

 

 

 

CHÙM THƠ NHỎ

 

EM VỀ TRƯA NẮNG – 1990

 

trông ra cát trắng nắng loá mắt

tiếng con khóc ré, lòng xốn xang

gió hầm hập giật rát cả mặt

chợt em về cùng mây che ngang.

 

SÔNG CUỐI THU – 1990

 

tình cờ bên sông trưa nay

thấy rơi cánh lá, bóng cây rùng mình

và trời mây cũng rung rinh

và em bất giác lặng thinh, nghĩ gì…

 

ĐÊM VỚI BIỂN – 1991

 

vỗ trắng bãi bờ bờ bãi lênh đênh

phố bồng bềnh trăng nghiêng ngả chung chiêng

lại điên đảo với trùng trùng sóng sóng

lòng ngỡ lặng rồi. Biển chẳng lặng yên.

 

CẦU VỒNG  – 1991

                        (tặng anh Phan Văn Quang)

 

mẹ đôi khi suýt đầm đìa cơn mưa

ba ngột ngạt nghẹn bừng nắng nỏ

nước mắt đoanh tròng con buồn bã ngó

cả nhà rưng rưng trong bảy sắc cầu vồng.

 

NẮNG HAI QUÊ – 1991

 

vào thăm, ngơ ngẩn, trưa nay

ngoài kia nắng trắng, trong này nắng xanh!

ngun ngút cát bỏng quê anh

long lanh cây lá hiền lành làng em

bâng khuâng khi chợt hiểu thêm

những gì huyền bí làm nên chuyện tình.

 

ĐỌC  BÁO, GẶP ĐOÁ QUỲNH TRÊN CÁT – 1991

 

trên cội rễ xương rồng thách đố cằn khô

đến tự bao giờ một lá quỳnh óng mượt

hoa ban mai toả hương trắng muốt

cây đổi đời nhau và thấu hiểu chính mình.

 

 

 

 

LẠI TÌM THẤY NỤ CƯỜI

 

có nắng rộng trời cao và gió

còn có thêm dòng sông lặng yên

anh gặp lại nụ cười xưa cổ

với mắt nhìn trong vắt của em

 

anh hoà vào thênh thang biêng biếc

anh tan vào nắng mới hồn xưa

chỉ còn

       trong mắt em êm ả

một nụ cười thanh thoát, trẻ thơ.

 

                                   1985

 

 

 

 

THOÁNG THƠ

TRƯỚC NGÔI NHÀ CŨ

 

sông nước lung linh sóng vỗ

vàng ươm cái nắng Long Xuyên

ngấn hồng phù sa tuổi nhỏ

mới hay giờ vẫn tươi nguyên

 

ngôi trường Khuyến Học vẫn hiền

bình dị già nua xưa cổ

tuổi nào sống giữa bút tiên

lớn bổng ước mơ rạng rỡ

 

môi mọng ngọt hồng vọng cổ

người đàn bà đẹp đeo khuyên

có phải bạn tôi ngày đó

tuổi nào sông Hậu hồn nhiên

 

đôi cánh hoa muồng quay nghiêng

nghiêng nghiêng sân trường thương nhớ

tôi say hương xưa rất riêng

toả từ tấm lòng Nam Bộ

 

thoáng ba mươi năm – thoáng gió

cù lao hoa trái và thuyền

và đất và người và phố

ngập hồn một thoáng Long Xuyên.

 

                                       1992

 

 

 

 

 

KHÚC TỰ RU

SAU CUỘC RƯỢU

 

ngủ đi ru hỡi giấc lành

à ơi trăng sáng bên gành, mây trôi

ngủ đi, gắng nhếch môi cười

à ơi trăng sáng trên đồi, sương bay

ngủ đi, cùng thoáng mơ say

à ơi trăng sáng ngực này, tình em

ngủ đi, mong bồng bềnh đêm

trăng phiền cõi thức sáng thêm cõi nào…

 

                                             1991

 

 

 

 

GIÃ TỪ B’LAO

 

giã từ B’Lao

và mùa hoa vàng tháng chín

sắc hoa ngày tôi đi

vẫn nồng nàn như buổi nào mới đến

 

giã từ B’Lao

và vòm trời cao xanh kia

ơi vòm trời suốt đời tôi ngưỡng vọng

(nhớ đôi mắt ai long lanh sao khuya)

 

B’Lao B’Lao

ngày mai ra đi

nhưng lòng tôi mãi hoài ở đó

và thiên nhiên nơi đâu

cũng xanh tươi như tấm lòng B’Lao.

 

                                      1980

 

 

 

 

SÀI GÒN, TRƯA ĐI LẠC

 

                nhớ xóm cũ bên kia trường Quốc Anh xưa (*)

                      và Huệ Đức (Long Xuyên, An Giang);

                tặng Nguyễn Nu

 

ai đưa anh về chốn xưa

gặp anh ngồi dưới hiên trưa, thuở nào

nắng nồng ngàn ngạt hanh hao

khét khê tôn ván nung vào giấc mê

khế rơi hoa tím bên hè

riêng anh lặng nhớ Ba Thê tím hồn

tắc kè núi nhỏ kêu dồn

thương mây đỉnh Tượng bồn chồn thương ai

tím hoa rơi tiếng thở dài

nhớ anh mẹ khóc? nhớ ngoài Trung mưa?

rừng xanh thốt nốt xanh dừa

chị hoài hát múa trong mùa chiêm bao

Miền Tây hương mật ngọt ngào

tuổi thơ rợp mát ngả vào lòng cha

nhà xa quê, anh xa nhà

trưa Sài Gòn tím từng hoa rơi buồn

một bé bỏng mấy nhớ thương

lạc trong xóm trọ, sân trường tuổi thơ

anh đi lạc đến bây giờ

ba mươi sáu tuổi ngẩn ngơ, lạc loài

con chim đổi xứ rạc rài

trưa nay đứng sững bên ngoài rào xưa

nắng mê thiêm thiếp giấc trưa

nắng vàng kí ức, khế mưa tím lòng

người xưa về trần buồn không

anh từ cõi bệnh về trông cõi này…

 

                                            1992      

 

Cước chú bài Sài Gòn, trưa đi lạc:

(*) Nay là Trường Trung học cơ sở Khởi Nghĩa, trên đường Nguyễn Văn Trỗi, quận Phú Nhuận, TP. HCM..

 

 

 

 

MỘT NƠI

CHỈ CÒN LÀ THƯƠNG NHỚ   

 

biền biệt rồi, đã xa quê

bao giờ tôi được trở về thăm tôi

một thời tấm bé chơi vơi

tóc râu sầu hận một thời rêu rong  

 

trong tôi vắng quạnh đồng không

khóm tre Một mãi vời trông xóm làng

trong tôi cát trắng chang chang

trong veo nước mắt ứa tràn đập Thanh!

 

Sài Gòn khuya nỗi nhớ hành

nằm im trố mắt dỗ dành trái tim

tuyệt mù rồi ơi cánh chim

xót đau tím lịm mùa sim, đừng về!

 

tôi lưu đày, tôi xa quê

với niềm hạnh-phúc-tái-tê cũng đành

vết thương, Quảng Trị (*) không lành

đến trăng cũng cháy, trời xanh đỏ bầm

 

trong tôi tuổi nhớ vẫn rằm

thương hoài Thạch Hãn xa xăm sáng hồn

trong tôi khát vọng chẳng mòn

Hải Lăng khuya khoắt sao còn long lanh

 

bằn bặt rồi ơi Diên Sanh

ngút ngàn Quảng Trị lau tranh xa rồi

nắng mưa không héo nụ cười

cúi xin lưu lạc trọn đời nhớ quê…

 

                                         1992

 

Cước chú bài Một nơi chỉ còn là thương nhớ:

(*) Vết thương Bến Hải (vĩ tuyến 17). Hiệp định Genève 1954 chia cắt đất nước, lấy sông Bến Hải làm giới tuyến hai miền.

                                     (Chú thích ngày 06. 03. 2005)

 

 

 

 

 

GƯƠNG MẶT, THỜI GIAN

 

anh ngồi nghe gió hát

bên kia vườn yêu thương

mặt nước lặng yên trong chiều nắng tắt

phả vào anh

              chút mơ màng

                       êm ả bâng khuâng

và tiếng nói sâu đằm thăm thẳm – 

thời gian…

 

có thể nào không nhớ về em

gương mặt sáng dịu dàng tươi tắn

và nụ cười rỡ ràng

và giọng nói trong ngần

lóng lánh

như còn ngân vang thiết tha

như còn chơi vơi…

mùa hoa xa xôi…

 

anh ngồi trong chiều phai

chấm sao xa thắp lại cuối ngày

bâng khuâng thương nhớ ai…

 

anh ngồi nghe gió hát

bên kia vườn yêu thương

bóng chiều mênh mang bóng chiều tím ngát

gương mặt em huyền ảo lung linh

trên dòng tháng năm…

 

                                             1982

 

 

 

 

HƯƠNG LAM CHIỀU HÔM

 

lam mờ khói nhang trầm mặc giữa trời

khẽ giật mình trước dáng đứng nghìn năm phơ phơ

                                   ngỡ mơ hồ ai đánh thức

hồn thiêng bao đời núi sông hiện khuất

trong hương lửa chiều hôm, thăm thẳm tấc lòng

 

giữa rối bời hốc hác lo toan chất chồng

chợt nhớ chợt quên

        bụi bặm phủ đầy những gì tưởng chừng

                                                huyễn hoặc

mất trong còn và còn trong mất

như với mỗi nụ cười, chiếc lá,

               tính tuổi làm sao mỗi vật mỗi điều

 

lam mờ khói nhang trầm mặc cuối chiều

thiêng liêng cả những gì bình thường nhất

nhân loại và muôn nghìn năm

                           chứa trong từng hạt đất

với thoáng hương lửa chiều tà, ngọn gió tương lai

                                 cũng hừng sáng trong tâm

 

dáng đứng nghìn năm phơ phơ lặng thầm

giữa lam mờ chiều hôm, mẹ trở thành huyền diệu

con cảm nhận những gì ngỡ chừng không thể hiểu

máu xương thực thế kia thì trời đất có tâm hồn…

 

                                                   1991

 

 

 

 

BAO GIỜ

 

                bao giờ rau diếp làm đình

                gỗ lim ăn ghém cho mình thương ta

                                        (ca dao)

 

buồn như cây lá mùa thu

thương người tôi đứng tương tư bên nhà

 

bao giờ rơm rạ đơm hoa

cho tình tôi nắng trắng tà áo bay

 

bao giờ đất hoá làn mây

tôi đi qua ngõ cho ai đứng nhìn

 

bao giờ đá cuội làm tim

để tôi hờ hững như em bây giờ

 

bao giờ như cây bơ thờ

thương ai em đứng thẩn thơ trước nhà

 

bao giờ mơ cỏ thành hoa

cho em biết khổ để mà thương tôi…

 

                                       1973

 

 

 

 

CHIỀU UỐNG RƯỢU

MỘT MÌNH

 

rừng xa nắng muộn tắt rồi

chợt ngôi sao cũ cuối trời thắp lên

và lòng không thể nguôi quên

thoảng ngọn nồm bỗng thoảng tên một người

 

(rượu ơi ngỡ chỉ vui thôi

xui chi dại dột nhớ thời mới yêu!)

 

cháy lên trong chén rượu chiều

chín mê mười mộng năm liều bảy lo

những đêm khuya, thơ học trò

một chiều gió cố tình cờ làm quen

 

(hỡi ơi quên cữ quên kiêng

rượu ma rượu phật rượu tiên say người!)

 

gõ bàn hát chẳng ra hơi

vuốt đầu tóc rối bật cười, bâng khuâng

thoáng sao xa, thoáng sao gần

ảo thanh hay gió vọng thầm tên ai…

 

                                     1990

 

 

 

 

CUỐI CÙNG

XIN MỘT LẦN CẢM ƠN  

 

khói đá mờ bay

hàng thông xanh rùng mình ướt đẫm

một buổi chiều một mùa thu

cánh chim qua đỗi vô tình

mang đến

tiếng chuông chùa ngân nga

 

mùa xưa năm xưa hồn xưa

em đi trên đường chiều vui cỏ

tình sầu sương tan

guốc khua êm nồng nàn

áo bay trong gió

ngoan hiền vai tóc đan thanh

 

ta – tên mục tử

nghiêng tiếng sao vô vi

lùa bầy trâu trầm luân trả lại chuồng đời

ta nằm lăn trên cỏ

hôn dấu chân em

nghe lòng mình thênh thang như buồm mây lộng gió

rộn rã chân em

guốc khua nho nhỏ

 

ngày xưa năm xưa mùa xưa

nắng cúc vàng ngoài ngõ

ôi một sáng mai thu

ta đứng nhìn em cuối phố

bâng quơ em cười bỡ ngỡ

và trái tim hồng ta đã hiến dâng

 

ơi tình mùa trên lá rưng rưng

ơi mùa thu quàng vai ngoan

đưa em về lối lạ

nơi có một dòng sông rất xanh

nơi có chiếc cầu bắc qua hai bờ đất

(chưa một lần gặp nhau)

cho em soi bóng mỉm cười

cho em bâng khuâng sắp khóc

nhìn lá thu bay

ước mơ như cụm lục bình trên dòng ngày tháng

bên bóng mây phiêu đãng êm đềm

nơi có những con thuyền đầy cát long lanh…

để hôm nay

tôi đứng bên này bờ nghe sóng vỗ

cầu xưa vẫn gãy

nối liền với bờ kia – hư không!

và trái tim xưa…

tôi làm người mất bóng

 

cuối cùng xin một lần cảm ơn

em đã chia nhau những thoáng yêu thương

suốt phần đời tôi không tiêu hết

ơi những tiếng chân em

đã tập cho tôi từng bước sống

đã dìu tôi qua cầu gian nan

đã vuốt ve tôi những lần thảm bại

 

xin một lần cảm ơn

ơi hàng thông xanh chân núi đá

cảm ơn bốn mùa có mây có gió

có nắng và mưa trong tình sầu vạn cổ.

 

                                               1973

 

 

 

 

CÂY BÀNG VÀ NGƯỜI ẤY

 

chống chỏi nỗi buốt giá

bàng đứng giữa mưa đông

 

nén niềm đau vật vã

có người đang hát ngông

 

máu đỏ ứa bẫm lá

râu tóc người tơi tả

 

nước mắt rơi bỏng má

người cười tràn ha hả

 

bàng cùng trẻ chờ trông

mùa bóng râm và quả

 

sao cũng một chút lòng

đành nhìn nhau xa lạ!

 

                         1990

 

 

 

 

ĐỌC ẨN DỤ CỔ 

BÊN DÒNG THẠCH HÃN

 

cúi nhìn mình trong vại dấm in soi cả bóng đất trời

thương sự sống và bụi tro – thấu suốt kiếp người

kẻ sĩ ngày xưa ơi

ai bảo ngọt ai nghe chua

và ai thấy niềm chát đắng

và ai nữa nhìn ra long lanh lệ mặn

muôn kiếp chảy ròng…

 

đón nhận đủ vị đời

Quảng Trị hiểu sông là sông

và sông là mồ hôi lóng lánh

cho tanh xót hoá mỡ màu,

                 cay cực lại bùi thơm

bình tâm mỉm cười hồn hậu tự nghìn năm.

 

                                              1991

 

 

 

 

MỘT THOÁNG HOA 

 

hình như nắng rất ngọt lành

trên cây và lá trên cành và em

tôi đang ngơ ngẩn vời xem

cánh rời rụng xuống, hiện lên trái vàng

mặc tôi bối rối bàng hoàng

thắm hương, rơi nhẹ vào bàn tay ai!

tôi cam nuốt tiếng thở dài

hạt mầm vươn khẽ, xanh cài lên xanh!

 

qua mơ mòng quá mong manh

xưa sau em đã hiện thành trong tôi

nơi em có bao nết người

rất hôm nay lại như thời cổ sơ

vừa già cỗi vừa non tơ

đang chín mọng, thoáng bất ngờ, tàn rơi!

 

yêu em từ thuở xa xôi

đã bao năm quá nửa đời quá xa

 

mất nhau rồi mới hiểu ra

em là hoa chỉ thoáng là hoa thôi

bởi em rất đỗi con người

tôi mê tưởng nên một đời buồn đau

thời gian giờ rối vào nhau

xót đôi sợi bạc chen màu tóc xanh

 

thoáng hoa nắng cũ ngọt lành

hình như hư ảo thôi đành hình như!

 

                                       1992

 

 

 

 

CHÙM THƠ NHỎ  

 

HƯƠNG SẦU ĐÔNG – 1985

 

sầu đông ơi mùa hoa tím ngát

nghe nao nao làn hương xa xăm

sầu nơi đâu mang mang mặt đất

đông qua rồi sao còn bâng khuâng.

 

THƠ NHỎ BÊN SÔNG – 1992

 

em về bến ấy mù sa

với vầng trăng mỏng và hoa dại buồn

em về bến ấy mù sương

với con đò nhỏ, sào buông, sao đành!

 

TRĂNG VƯỜN AI – 1990

 

đêm rất tình dưới vầng trăng mỏng

giọng hát ai huyền ảo mông lung

tiếng đàn ai chạm vào bát ngát

vọng về tôi ngợp trước vô cùng.

 

ĐOÁ TRANG – 1985

 

sớm mai lặmg ngắm đoá trang

nở hiền bên hiên nhà cũ

ngoài kia đường – xôn xao ồn ào quán chợ

sao trang rực cháy âm thầm

cho mắt tôi như trẻ nhỏ – thêm một lần trẻ nhỏ –

sáng hừng lên.

 

 

 

 

 

CÕI MIỀN DỄ VỠ

 

thoáng dòng sông nào thấy nước đâu

vàng ngập nắng bóng con đò loá nắng

tàu băng qua vùng pha lê vỡ rạn

rạn vỡ trong tôi những vết thương hồng

 

buồn lịm đi. Đêm tràn tới nhoà sương

khoang nhốt gió, lắc lư,

       tiếng sắt thép mệt nhoài và đèn vàng võ

(tôi mở mắt nắng tắt rồi cõi nhớ)

miền quê em giờ cũng xa rồi

 

cảm ơn cảm ơn thời rực nắng! Nắng mơ hồ

                              man mác êm trôi

nắng sũng ướt dấu chân bờ cát sáng

tiếng chim pha lê hoa cỏ pha lê

pha lê trang thơ trưa học trò nắng vỗ bờ lãng mạn

 

thôi mãi mãi chỉ là tình bạn

men nắng say huyền ảo đã xa với

muốn thanh thoát nào dám đâu siêu thoát

bánh sắt đời thường vẫn nghiến tan

                                miền nhớ tinh khôi!

 

                                                 1992

 

 

 

 

ĐÃ CHO BA TỰ BAO GIỜ…

 

ai lên chơi núi đề thơ

núi Bài Thơ tự bấy giờ có tên

cầm vành nón lá soi nghiêng

thấy bài thơ nhỏ sáng lên nắng hồng

bé ơi, đáy mắt tươi trong

ba nhìn vào đó viết dòng ước mơ

 

hồn thơ đất nước không ngờ

đã cho ba tự bao giờ tên con

không làm nên chuyện nhiều hơn

thương yêu gửi ở tên con chút lòng

 

mai này đội nón nhìn sông

đọc thơ tìm núi ba cùng con đi

 

lớn lên dẫu bé làm chi

nhớ bài thơ nhỏ ba ghi vào hồn…

 

niềm thơ Đất Mẹ ru con

vọng từ thăm thẳm mãi còn thiết tha

ngân nga suốt một đời ba…

quê hương là tứ con là Bài Thơ…

 

                                        1998

 

 

 

 

BÊN CON ĐƯỜNG SINH VIÊN

 

tóc râu hoe bụi đường

dừng chân bên hè phố

tà áo xanh ngày nọ

phất động niềm nhớ thương

 

thuở theo nhau tới trường

nắng thơm hàng long não

tóc dài màu huyền ảo

lụa xanh trời sông Hương

 

qua ngàn nỗi vô thường

sao còn xanh áo ấy

nón lá ngà vẫn vậy

riêng lòng vơi khói sương?!

 

anh dừng chân bên đường

gặp lại thời thơ đó

Mỹ Tho reo guốc nhỏ

vần khua vàng nắng vương

 

nhật kí xe bao chương

xoá mấy mùa mơ cũ

ngờ đâu trưa lạc xứ

thoảng sáng hồn uyên ương

 

anh dừng chân bên đường

lẻ loi trông áo biếc

đang chiêm bao tưởng tiếc

lá xoáy cuồng chân tường.

 

                              1992

 

 

 

 

THƠ Ở BÀN VẮT SỔ 

 

ba sợi chỉ rút đi

tôi ngồi vắt sổ

chợt sáng mai nay

chẳng thể vô tâm như trẻ nhỏ

 

ôi kỉ niệm vơi dần

và hôm nay và ngày mai nữa

vơi đến bàng hoàng

 

thời gian

thời gian vun vút trôi qua

bất chợt ngẩn ngơ sững sờ lặng ngó

tôi thấy tôi râu tóc nhạt nhoà

gò lưng bên bàn vắt sổ

 

tháng năm như tơ chỉ nhỏ

ba trục thời gian

vơi đến bàng hoàng…

 

nhưng nếu trên đời này

những người thợ may không có

và bao kẻ như tôi không ngồi vắt sổ…

 

ôi sáng mai nay

tôi vẩn vơ buồn cười, trẻ nhỏ…

 

                                     1988

 

 

 

 

CÂY MAI BUỒN 

 

như Phật Bà nghìn mắt nghìn tay 

lá và cành – trong sương khói nhớ

có người đàn ông tín mộ

chờ phép mầu từ oan khổ tình em

 

mai lặng lẽ trước thềm

rét lập xuân mờ nhoà thổi khẽ

tiếng nguyện thầm hay hơi thở dài ghìm nhẹ

 

từ nông nỗi kia

mắt mở nghìn lộc non

tay nâng niu nghìn đoá vàng.

 

                                           1992

 

 

 

 

 

HÀN VŨ HÙNG

 

TRẦN XUÂN AN,

NHÂN BẢN

 

              (bài viết đã in trên Tạp chí Cửa Việt

                                               số 11, 1992)

 

“Nắng và mưa” (*) là một miền tâm thức độc đáo đáng yêu. Độc đáo mà không xa lạ. Đáng yêu mà không kiêu kì. Đấy là miền tâm thức rất đỗi nhân hậu của một chàng trai Quảng Trị, một kẻ vô vùng tha thiết với Quê hương, với Mẹ già, vợ con, bè bạn và cuộc sống. Anh sớm tha hương, sớm nhập thế, luôn đau đáu, khắc khoải, day dứt với bao nỗi niềm phức tạp, và anh cứ mãi hoài tìm kiếm chính anh “trong ống kính vạn hoa / vạn nghìn đổ vỡ / vạn nghìn niềm vui / say đắm / khát vọng / chua xót / đắng cay”. Đấy là một miền tâm linh huyền ảo và thực tại, ngây thơ và già dặn, ngọt ngào và đắng cay, tự hào và hờn tủi, tin yêu và xao động, dịu dàng và phẫn nộ; ở đấy chứa chất vô vàn những hoài niệm day dứt về tuổi thơ, những suy nghiệm xót xa về hiện tại và những trăn trở khát vọng về tương lai.

“Tóc bay sương trắng” là bài thơ đầu tập, anh viết kính tặng Mẹ – bài thơ của chàng trai 17 tuổi lưu lạc phương trời lạ:

“nhìn sông nước lã trôi xuôi

con như lạc giữa dòng đời đã lâu”

Với Mẹ, anh bao giờ cũng là một đứa bé non dại cần được ấp ủ, dắt dìu. Phải mà, 17 tuổi vẫn còn bé lắm, mà giờ đã vào tuổi 35, anh vẫn còn là bé bỏng. Mẹ là nơi nương náu của linh hồn anh. Mẹ cũng như quê nhà, luôn là cõi đi về. Thế nên, “con úp mặt nhớ quê hương / thương sao quán mẹ bên đường mưa bay”.

Qua bài thơ đầu tập này, ta liền nhận ra các tâm đức đáng yêu trong diện mạo tâm linh Trần Xuân An, và tự nhiên ta tin cậy thật nhiều, thương mến thật nhiều vào thế giới thơ và nhân cách Trần Xuân An.

Cái tôi Trần Xuân An rất đậm nét, phơi bày lồ lộ rất hồn nhiên. “Nắng và mưa” là một dung mạo riêng biệt, giàu cá tính, đa cảm, có tri thức, có chiều sâu, dễ nhớ, dễ nhận, dễ thân quen và chắc chắn là hồn hậu đáng yêu. Anh khiêm tốn ví mình là: “… giọt sương, chỉ là giọt sương / lóng lánh hừng đông”. Một “giọt sương”, giàu hoài niệm và vọng tưởng. Tâm thức anh trăn trở: “ơi giọt sương khuya / hãy lạnh ngón chân bấm trên lối về quá khứ / tỉnh lại những ngày qua còn khét nồng cuồng điên phẫn nộ”. Nhưng ở anh, không hề có chủ nghĩa cá nhân; anh nhận thức rất cao đẹp về trách nhiệm cá nhân, biết xây dựng và thăng hoa cái tôi:

“mỗi cuộc đời một hành trình gian khổ

bắt đầu đi từ phía của riêng mình

góp vào hừng đông – chân trời cháy ngời tất cả”.

Đối với Trần Xuân An, “mỗi bài thơ là một lần lắc tay / như một lần trái tim nhói thắt”. Và anh cảnh cáo “loài cú vọ / đừng đụng đến thơ”. Anh cho rằng, nhà thơ như “ngọn thu lôi / nhận bao sấm sét giữa trời thương đau / dẫn truyền xuống tận đất sâu / mạch đời hoá giải biết bao nỗi đời”.

“Nắng và mưa” là một miền tâm linh chân thật, rất thực, đến độ khiến ta ngạc nhiên, mà ta có thể cảm nhận, cảm thông được, thậm chí chia sẻ được.

Chỉ qua một tập thơ mỏng mà ta hiểu biết về anh rất nhiều. Một sự hiểu biết không hề ngộ nhận. Tất cả là hiện thực, nhưng không hiện thực một cách trần trụi, thô kệch. Thơ anh là một hiện thực tinh tế được chắp cánh, được tắm gội, chắt lọc, có hơi hám bùn ruộng nhưng thơm dịu mùi mạ non, có nghiệt ngã mưa bùn nắng lửa nhưng long lanh “giọt sương / đọng cả mùa trăng tuổi nhỏ”. Một hiện thực lung linh sắc màu và gợi cảm vì đã được phản chiếu qua một cõi tâm thức đa tầng, đa diện, mang chiều kích không gian, thời gian vô hạn. Hiện thực này nhiều khi bay vút vào chiêm bao, chiếm lĩnh những ảo ảnh hoang đường, lẫn hoài niệm về một thiên đường đã bị đánh mất; hay có khi lần mò vào cõi siêu thực tìm kiếm Cái đẹp, Tự do, An lạc. Hình như tâm thức anh thường trực nóng sốt, có lẽ vì thế mà anh mắc “bệnh tâm thần” (**). Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo viết: “Trạng thái “tâm thần” của Trần Xuân An không ít, và khi anh làm chủ được ngôn từ, những ý tưởng đau đớn và cao đẹp bỗng lay động lòng ta”.

Không hiểu sao khi đọc thơ Trần Xuân An, tôi cũng chạnh nhớ đến Hàn Mặc Tử, và còn liên cảm tới nhà thơ Nga Ê-xê-nhin (EceHиH). Chắc chắn không phải là ngẫu nhiên. Hãy nghe anh reo trong thổn thức:

“… con về đây, con về đây

nghẹn lòng con giữa đất này, quê hương…”

“… xóm giềng cũng đến sum vầy

tay con mềm lại trong tay bạn bè…”

Anh từng “lang thang dọc cửa sông khuya”, thấy “tâm hồn đất nước hiện về như mơ”, khiến anh “suốt ngày ngây dại sững sờ”.

Tuổi thơ – hay nói chung là những gì đã trôi qua – là một khát vọng kiếm tìm dai dẳng, ráo riết của anh. Anh thường hoài niệm hay “hoang tưởng” để có lại “thời gian đã mất” (Marcel Proust). Nếu có phép nhiệm mầu, anh sẵn sàng đánh đổi tất cả để được trở về với tuổi thơ, với “mùa trăng tuổi nhỏ”, cả “thời mới lớn đam mê”, cái “thời con dế nhỏ / ngậm sương mùa tương tư”, cho dẫu xã hội “ngắn dài câu gian dối / ướt sũng lời lọc lừa”. Tội nghiệp anh, cứ thích làm “chim đổi xứ / tìm hoài mùa ngây thơ” để “một đời còn thương nhớ / khi nghe tiếng chuông xưa”. Thấy anh cứ trăn trở, ngậm ngùi mà thương: “Đã xa rồi một đời xa / vẫn không nhạt nổi em và ngày xưa / thời tôi vừa tạnh bão mưa / tim ta mê muội bỏ bùa cho nhau”.

Anh gợi ta nhớ về tuổi ngây ngô cứ mãi băn khoăn khi nhìn lên “trời cao xa xanh ngàn năm”, tự đặt ra vô vàn câu hỏi lạ lùng về mệnh số, thiện ác, vui buồn mà đến nay ta vẫn còn đang loay hoay tìm câu giải đáp. Than ôi, những câu đố ấy vẫn sẽ còn lung linh bí ẩn đến ngàn sau.

Mẹ và tuổi thơ (hàm chứa quê hương và di sản văn hoá) là nguồn cội, luôn luôn ám ảnh kích thích anh sáng tạo. Tâm hồn anh khắc khoải niềm ngưỡng vọng vô biên về nguồn cội. Niềm khắc khoải này đã hàm dưỡng nhân cách, lương tâm và tài năng của anh. Mấy câu thơ này tôi cảm thấy là lạ và thú vị:

“mang nỗi đau hoá đá giữa lòng

nhưng chất Quảng Trị trong mình có chút nào không?

cùng gió mới, giữa trưa này, qua sông

hồn Thạch Hãn bảo tôi mỉm cười ngẩng mặt”.

Và nỗi dằn vặt này mới cao quý, cảm động làm sao: “đời cho muôn mối nợ / quên hết, sao quên ơn? / chết, hai mắt vẫn mở?”.

Nhưng có lúc anh bức xúc thốt lên đau đớn để phản đối người đời đã truy bức, áp đặt, ngộ nhận anh: “không phải điên là hết / không phải, không phải đâu” (***). Hãy đọc thơ anh đi! Bạn sẽ hiểu anh là Gã “tâm thần” (****) giàu chất nhân bản, biết sống cao thượng và biết sáng tạo.

 

Đông Hà, tháng 8. 1991

HÀN VŨ HÙNG

 

 

Cước chú bài Trần Xuân An, nhân bản (Hàn Vũ Hùng):

(*) Trần Xuân An, Nắng và Mưa, tập thơ, Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Trị xuất bản, 1991.

(**) “Bệnh tâm thần”, “trạng thái ‘tâm thần’”, hai cụm từ này được hiểu như một cách nói tu từ, không phải là bệnh tâm thần thật sự.

                                     (Chú thích ngày 06. 03. 2005)

(***) Đúng ra đây là câu trích từ bài thơ Trần Xuân An viết thay  những bệnh nhân tâm thần. Xem thêm “Lời thưa nhân dịp chép lại tập thơ “Nắng và mưa”, đã xuất bản lần thứ nhất, để phát hành trên mạng liên thông quốc tế (internet)”…      

(****) Xem chú thích (**).

                                        (Chú thích ngày 06. 03. 2005)

 

 

VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ

 (tính đến 1992)

 

◘ Trần Xuân An

Sinh ngày 10. 11. 1956.

Nơi chôn nhau cắt rốn: Huế.

Quê cha đất tổ: Quảng Trị.

Tuổi học trò theo cha và anh sống ở nhiều nơi.

Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Huế (1974 – 1978).

Dạy học ở Lâm Đồng gần 5 năm.

 

1971, cùng bạn bè chủ trương tập san Đất Vàng, trong giới học sinh ở Tam Kỳ (Quảng Nam – Đà Nẵng), với bút hiệu Huyên Đình (Người Mẹ).

1973, “Tiếng chuông xưa”, bài thơ lãng mạn đầu tiên in trên Tuổi Ngọc.

1975, được tặng thưởng “Một trong mười bài thơ hay nhất trong năm” của báo Văn nghệ Giải phóng.

1991, giải Sáng tạo trẻ, Hội VHNT. Quảng Trị.

 

◘ Đã in:

Nắng và mưa, tập thơ, Hội VHNT. Quảng Trị xuất bản, 1991.

Hát chiêu hồn mình, tập thơ, NXB. Đồng Nai, 1992.

 

 

 

MỤC LỤC

 

 

◘    Thơ ngỏ

1.    Thoáng xưa

2.    Khúc hát chiêu hồn mình

3.    Huế và ngày sinh

4.    Thăm anh nơi miền xanh ấy

5.    Đôi khi

6.    Liên khúc buồn trong mộng tưởng

7.    Thăm bạn ở Phan Thiết

8.    Mãi hoài Cần Thơ, với trái tim thuở đó

9.    Mùa ngô ở vùng đất ấm áp

10.  Chùm thơ nhỏ (5 bài)

11.  Ngày con ra đời

12.  Đà Nẵng, chiều tiễn bạn

13.  Cõi người ta sẽ đẹp sao 

14.  Ngôi nhà có cây thị thơm vàng

15.  Vườn thu trưa

16.  Ngày trầm hương thơ ca –

       Phụ bản Đỗ Trung Quân

17.  Khúc hát tìm rừng

18.  Thêm một lần em toả nắng trong tôi

19.  Bài thơ gửi người bạn láng giềng

20.  Tự trấn an trong đêm về phép

21.  Sương sớm mai

22.  Cơn bão và cây sầu đông

23.  Bướm trắng

24.  Bên sông

25.  Niềm vui

26.  Ba hát và con ru

27.  Hoa quỳ vàng

28.  Nhớ nhà

29.  Nụ cười tìm gặp

30.  Đêm ngủ trên hiên

31.  Ngày ấy, đá mồ côi –

       Phụ bản Đỗ Trung Quân

32.  Gặp nhau

33.  Nghĩ về người nghệ sĩ và tiếng đàn tài hoa thuở ấy

34.  Dòng sông chiều

35.  Núi xanh tiếng hú, tự trào

36.  Chùm thơ nhỏ (5 bài)

37.  Về làng quê tìm bạn thơ

38.  Nguyên Ngân

39.  Ban mai cõi lạ

40.  Bàu Vịt và ánh trăng

41.  Khối tình

42.  Phương Nam với bạn bỗng dưng khẩu khí tết

43.  Vườn của hai người

44.  Thảo nào

45.  Ơn em

46.  Trong mưa thu

47.  Ngậm ngùi chiều địa đàng

48.  Pho tượng thiếu nữ khoả thân buồn –

       Phụ bản Đỗ Trung Quân

49.  Chùm thơ nhỏ (6 bài)

50.  Lại tìm thấy nụ cười

51.  Thoáng thơ trước ngôi nhà cũ

52.  Khúc tự ru sau cuộc rượu

53.  Giã từ B’Lao

54.  Sài Gòn, trưa đi lạc

55.  Một nơi chỉ còn là thương nhớ

56.  Gương mặt, thời gian

57.  Hương lam chiều hôm

58.  Bao giờ

59.  Chiều uống rượu một mình

60.  Cuối cùng xin một lần cảm ơn

61.  Cây bàng và người ấy

62.  Đọc ẩn dụ cổ bên dòng Thạch Hãn

63.  Một thoáng hoa

64.  Chùm thơ nhỏ (4 bài)

65.  Cõi miền dễ vỡ

66.  Đã cho ba tự bao giờ…

67.  Bên con đường sinh viên

68.  Thơ ở bàn vắt sổ

69.  Cây mai buồn

◘    Trần Xuân An, nhân bản (Hàn Vũ Hùng)

◘    Vài nét về tác giả

◘    Mục lục

70.  Chân dung (thủ bút, bìa 4)

 

 

HÁT CHIÊU HỒN MÌNH

Tập thơ

Trần Xuân An

NXB. Đồng Nai

1992

 

 

Chịu trách nhiệm xuất bản:

HOÀNG VĂN BỔN

Biên tập:

HIẾU DŨNG

Phụ bản:

ĐỖ TRUNG QUÂN

Tranh bìa:

“Mùa thu vàng”

LÉVITAN

Trình bày:

RỪNG RÚ

Sửa bản in:

ANH VŨ

 

In 1.000 cuốn, khổ 13 x 19 cm tại ITAXA. Số giấy phép: 208 / QĐ. / XB., ngày 12/10/1992. In xong và nộp lưu chiểu, tháng 11/1992.

 

Bìa 3

 

 

 

 

 

Phần gấp bìa 4:

 

“… thơ anh tránh được những lối mòn quen thuộc, có nét độc đáo trong ngôn từ và một cái ‘souffle’ (*) riêng”.

 

TRẦN PHONG GIAO

(Tạp chí Văn TP. HCM., số 20 / 1992)

 

 

 

 

Cước chú tr. A (phần gấp bìa 4):

(*) Souffle: hơi [thơ], khí [thơ] (thi phong, văn phong). Poèt qui a du souffle: Thi sĩ có khí chất (phong cách thơ).

                               (Chú thích ngày 07. 03. 2005)

 

 

 

 

 

 

Bìa 4

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

ảnh

Trần Xuân An

 

 

Thủ bút

CHÂN DUNG

 

có ai ném xuống dòng sông

một trái tim nhớ, bao vòng sóng lan:

tấm gương lệch nếp thời gian

cho ai soi thấy rõ ràng chân dung.

 

1985

 

chữ kí tác giả

 

(  hết tập  )

 

E-mail: tranxuanan_vn@yahoo.com

Cập nhật 06/30/09                                                                    Trở về trang chủ

                                                                 

______________________________________________________________________________________________________________

 

 

http://tranxuanan.writer.googlepages.com/home

 

hidden hit counter

 

Google page creator /  host

 

GOOGLE BLOGGER, DOTSTER, MSN. & YAHOO ...  /  HOST, SEARCH & CACHE  


 

    lên đầu trang (top page)   

 01-5 HB7 (2007) = 15-3 Đinh hợi HB7

 

 

Comments