t. Trần Xuân An - Mùa hè bên sông - Phụ lục 2

author's

copyright

 

trần xuân an

MÙA HÈ BÊN SÔNG

tiểu thuyết

1997 & 2003

 

 

06/29/09

 

 

Chương 1

 

Chương 2

 

Chương 3

 

Chương 4

 

Chương 5

 

Chương 6

 

Chương 7

 

Chương 8

 

Chương 9

 

Chương 10

 

Chương 11

 

Chương 12

 

Chương 13a

 

Chương 13b

 

Chương 14

 

Chương 15

 

 

 

Chú thích 1

 

Chú thích 2

 

Chú thích 3

 

Phụ lục 1

 

Phụ lục 2

 

___________

___________

 

Tư liệu

tham khảo

bổ sung

(20-04 HB6

[ 2006 ]):

 

Phụ lục 3

 

                             

        

   

 

TRẦN XUÂN AN

 

 

 

m ù a 

 h è

 b ê n

  s ô n

    

(nỗi đau hậu chiến)

 

tiểu thuyết

 

 

nnhà xuất bản  

 

1997 & 2003

 

 

     

P H Ụ   L Ụ C   II

( n g o à i   s á c h )

 

& CUỐI SÁCH

 

 

Tiểu thuyết

MÙA HÈ BÊN SÔNG

 

Bản in vi tính lần thứ ba

(có sửa chữa, bổ sung):

25.10 - 19.12.2003 [HB.3]

 

 

 

Trần Xuân An

 

Sáng tháng giêng

ở  Gò Đống Đa

 

 

 

1

 

lặng mình trước tượng đài Quang Trung

gò Đống Đa dưới chân tôi!

                                             Nắng tỏa

từ quản bút lưng trâu và chú bé Hồ Thơm (1)

                        trên đèo núi chập chùng

từ thanh gươm Nguyễn Huệ Tây Sơn

nghe sử thi thắp tim mình chói lóa

 

2

 

ông cha vào khai khẩn đất phương nam

mãi xót lòng nỗi cằn cỗi Nghệ An

phải đổi họ lấy chút yên thân nơi xứ lạ

vua, và hai chúa hai Đàng

Đất nước nát tan

đành dựng cờ đào trên rối bời tàn phá

với thanh gươm nghĩa cả

 

3

 

lần đầu tiên ra đây đến ngồi trên ghế đá

tôi ngẩng mặt trên bàn đá

đọc lời hịch hào hùng chói ngời dân dã

chạm lên tảng đá

sáng rọi nghìn sau

ngước nhìn tượng đài Ông cao vút trời sâu

mắt Quang Trung

nhìn tận Cửu Long

- lũ lũ đàn đàn quân Xiêm tan rã - sạch làu!

mắt Quang Trung

vượt qua gò đất chiến công

- một núi xác Tàu -

tầm kế sách vượt bao triều vua vương giả

 

4

 

sao để mãi hồn dân tộc bao đời đành sáng

                                    ngời trong văn tự lạ!

bắt con Trời Càn Long đầu gật mày chau

Quang Trung lấy lại Lưỡng Quảng nghìn xưa

                   bằng hào quang và một cỗ cau trầu!

(ôi lịch sử loài người!

            những dân tộc

            những quốc gia

            dồn đuổi nuốt tươi nhau!)

 

5

 

thực dân Phương Tây từ lâu

dò la Bắc - Nam

run rẩy đưa cao thập giá

run rẩy đưa cao nhánh lá (2)

kèm bản đồ

          giấu trong hàng hóa:

thư về nước, ngẩn ngơ, kinh hoàng

phơi lòng dạ!

ngợi ca Át-ti-la Phương Nam (3)

nét chữ bần thần nghiêng ngả

nguyện cầu!

 

6

 

danh sĩ Bắc Hà tâm phục đến chầu (4)

Hoàng đế Phương Nam, áo vải,

                                    da sạm nâu

rất mưu lược

sao hiền hòa chân thành quá

rất bản lĩnh

và ân tình đến lạ

 

7

 

lặng mình trước tượng đài Quang Trung

hiểu tuổi sống của thiên tài Tây Sơn

thắp sức sống nhân dân

sáng bừng vận nước

nhưng Ai tư vãn muôn đời còn đau! (5)

đau đến muôn trùng!

 

8

 

tôi ngồi trên ghế đục ra từ núi đá

ngẩng mặt trên bàn đục ra từ núi đá

trên xác thù bạo ngược

gò Đống Đa

ngập nắng sáng, tháng giêng

lá xanh, xanh mướt

thầm hát câu thơ về người áo vải anh hùng

cảm khái dân tộc mình dựng lên tầm cao Tổ quốc

phải bằng sông máu núi xương

và gò xác giặc điên khùng!

ôi, gò xác này chỉ là biểu trưng

một tầm cao, cao thẳm, không biết

                                        lấy gì đo được!

 

9

 

đâu rồi đền miếu, bát hương thuở trước

đã thắng giặc bằng căm thù

và bằng cả bao dung!

hương khói

tỏa lên dăm nét chữ chỉ đích danh:

lũ rối sắt máu, từ tim đen Càn Long

luôn chờ cớ xua quân cướp nước!

ôi lịch sử

nhân và nghĩa

cho vô cùng!

 

10

 

Quang Trung

người dựng mùa xuân

trên nỗi tan hoang hai miền Tổ quốc

bằng muôn triệu kiếm cung

trổ lên từ đồng Nam ruộng Bắc

bằng thanh gươm lóe thép Tây Sơn

bằng mùa mai thắm tươi ra Bắc

bằng mùa đào sáng bừng vào Nam

mùa xuân nối liền

vết thương sông Gianh

hai trăm năm

đau thắt Miền Trung

 

11

 

Hồ Thơm: Nguyễn Huệ: Quang Trung!

từ Nghệ An cỗi cằn

ông cha vào phương nam khai hoang

cánh chim Phượng Hoàng

mơ về đậu đỉnh xanh núi Quyết

chỗ đòn gánh kê vai gánh trĩu mùa vàng

chín rạn và bầm huyết

phải chăng

Trung Đô (6)

chiến lược nối liền Nam - Bắc hai Đàng?

và phải chăng

lệch tình ruột thịt cố hương nên nghiêng đổ hết?

 

12

 

Quang Trung

chỉ là lực biến dịch

            cho sông Gianh thôi gào thét?

để vận nước nối liền bằng thanh gươm Gia Long

cựu thần Đàng Ngoài cuồng trung giẫy chết

Nguyễn Du khóc Kiều đứt ruột đắng lòng

qua Đèo Ngang, buổi nắng tà uá rét

"quốc quốc gia gia" hoài Lê thê thiết

Bà huyện Thanh Quan

           tự đục tên khỏi gia phả nhà chồng? (7) (7b)

ngỡ mình là Hán tộc Hồng Tú Toàn,

           Cao Bá Quát huà theo lũ châu chấu điên ngông (8)

           quyển thơ thiên tài máu bết!

Phê-rô Tạ Văn Phụng (9)

           mạo danh con vua Đa-vít Viễn Đông

           Kinh Thánh rao giảng ngược,

                                     ngược ngôi sao Na-za-rét (10):

           “Nhà Nguyễn là đế quốc La Mã bên sông Hương!” - ngược lời,

                                                               lâu la hú hét -

           máu chảy ngược sông Hồng!

ôi, Quang Trung! Quang Trung!

chỉ là lực biến dịch

           cho sông Gianh thôi gào thét?

để Đàng Ngoài cứ mãi hoài Lê

           với nỗi cuồng trung!

 

13

 

từ Hà Nội mùa xuân

ngậm ngùi tưởng tiếc

ngồi trên gò Đống Đa

trên đỉnh cao chiến công Quang Trung

nắng hồng xanh non cỏ cây tháng Tết

tôi ngước nhìn Quang Trung

Quang Trung, Quang Trung, lực biến dịch

        loé chớp

        lành lặn vết thương sông Gianh

        nối liền non sông nối liền biển biếc

trước thanh gươm vó ngựa Gia Long

Đàng Ngoài phải chăng tự dựng mùa đông?

mùa đông lan vào Đàng Trong

        trăm năm thực dân tàu đồng súng thép...

Giê-su vô can, mười chín thế kỉ Người đã chết

       sao giáo đường sáng trưng

       thắp bằng máu mỡ Việt?

Đàng Ngoài - Đàng Trong

                  bỗng chung một nỗi lạnh tê rỉ rét...

 

14

 

từ Hà Nội mùa xuân

ngậm ngùi tưởng tiếc

Quang Trung, Quang Trung

tôi chợt hiểu chút máu thái thú bao đời trong Ông

mãi vỡ mạch muôn đời trên trang sử chép

vết thương Bến Hải đã xa, xa lắc, trập trùng

tôi viết từ uẩn khúc Miền Nam,

        uẩn khúc thuyền nhân:

"nội - nội phân tranh

ngoại - ngoại phân tranh"

       lịch sử viết thẳng hay uốn cong?

và sao vang ra tận đây

               - Hà Nội mùa xuân -

               những tiếng khóc ròng?

vết thương Bến Hải

          thiếu vắng một Quang Trung?

Quảng Trị quê hương

         đau thương, hào hùng, quyết liệt

sao vang ra đây

         câu hỏi nghẹn ngào róng riết

thiên tài Lê Duẩn là Quang Trung?

ý chí kiên cường Lê Duẩn là Gia Long? (11)

lịch sử đã lặp lại chăng?

lịch sử đã hoán vị hai Đàng?

đâu rồi bao tấm lòng đau niềm chung da diết

ai đó còn thao thức, khắc khoải, chờ mong

                  (ta chờ mong trái tim ta rất Việt!) ?

sông Gianh - Bến Hải, nắng nỏ, bão bùng

         nỗi niềm đứt ruột Miền Trung

         vết thương chưa thôi gào thét?

 

15

 

ra thăm Hà Nội, ngắm hoa đào mùa Tết

tôi mỉm cười, bâng khuâng.

 

                                                 Hà Nội, 05.03.1997

                                                Tp. HCM., 20.03.1997  & 02.2004

                                                TRẦN XUÂN AN

 

 

CƯỚC CHÚ của PHẦN NGOÀI SÁCH: bài thơ SÁNG THÁNG GIÊNG Ở GÒ ĐỐNG ĐA:

 

(1)  Nguyễn Huệ có tên thật là Hồ Thơm, vốn là hậu duệ của dòng họ Hồ Quý Ly (họ Hồ huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An; về sau chuyển ra Thanh Hoá...). Hồ Quý Ly lại là hậu duệ của thái thú Hồ Hưng Dật, người thiểu số (?) Trung Hoa, sang cai trị nước ta thời Bắc thuộc. Mặc dù có gốc gác rất xa đời là người thiểu số (?) Phương Bắc (Trung Hoa), nhưng thực chất huyết thống dòng họ Hồ Thơm (Nguyễn Huệ, chi nhánh ở huyện Hưng Nguyên, Nghệ An) đã pha trộn qua mấy chục đời để trở thành huyết thống Việt. Dẫu vậy, vẫn có một bộ phận nhân dân không ủng hộ Quang Trung Nguyễn Huệ vì lẽ đó.

      Có tư liệu cho rằng: Tổ tiên dăm ba đời trước của Hồ Thơm (Nguyễn Huệ) là lính thuộc quân binh họ Trịnh Đàng Ngoài. Trong một đợt giao chiến với quân Đàng Trong, người lính ấy bị bắt sống, và may thay, được chuá Nguyễn cho đưa vào Bình Định khai hoang lập ấp, rồi được phép định cư hẳn ở đấy. Từ đó, đất Tây Sơn tỉnh Bình Định có một nhánh họ Hồ vốn thuộc huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An sinh sôi nẩy nở, nhưng lại đổi sang họ Nguyễn. Tư liệu này cần được khảo chứng thêm.

 

(2) Nhánh lá trong ngày lễ Phục sinh (theo sự tích lịch sử - Kinh Thánh: nhân dân Do Thái tung hô Chuá Giê-su [Jésus], hậu duệ vua Đa-vít [David]).

 

(3) Attila (người Hung Nô [Les Huns, Mông Cổ], 406? - 453): một danh tướng có tầm vóc thế giới, xét về mặt thiên tài quân sự. Các cố đạo Thiên Chuá giáo vừa khâm phục, vừa lo sợ trước thiên tài quân sự của Quang Trung; họ so sánh Attila với Quang Trung trong những bức thư gửi về Pháp, Tây Ban Nha...

 

(4)  Tất nhiên vẫn có rất nhiều cựu thần vua Lê, chuá Trịnh chống đối: Phạm Thái  (tác giả Sơ kính tân trang), Nguyễn Công Tấn (thân sinh Nguyễn Công Trứ)...

 

(5) Ai tư vãn, một bài thơ dài của Lê Ngọc Hân (công chuá nhà Lê), vợ Quang Trung, khóc thương vị vua này khi ông băng hà.

 

(6) Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế tại Huế (lấy hiệu là Quang Trung), nhưng về sau lại có kế hoạch dời đô về nguyên quán Nghệ An. Địa điểm xây dựng kinh đô là vùng đất dưới chân núi Quyết, bên bờ sông Lam. Tên kinh đô là Phượng Hoàng Trung Đô. Tuy nhiên, kế hoạch bất thành.

 

(7) Xin xem chú thích (7 b).

 

(7b) Xin đừng hiểu Bà huyện Thanh Quan đồng cảm với những người Chăm (““chợ” mấy nhà”), khi dừng bước ở Đèo Ngang, vốn là biên giới Đại Việt – Chăm-pa thuở nào. Cũng đừng đẩy xa ý tưởng đó, rồi cho rằng, người Đàng Ngoài với người Chăm có chung một kẻ thù là các chuá Nguyễn, vua Nguyễn, khi cảm nhận hai câu luận và hai câu kết của bài “Qua Đèo Ngang”:

 

Nhớ nước, đau lòng con quốc quốc

Thương nhà, mỏi miệng cái gia gia

Dừng chân đứng lại: trời, non, nước

Một mảnh tình riêng, ta với ta

 

      Đặc biệt là câu thơ “một mảnh tình riêng, ta với ta”! Ấy chỉ là cảm xúc khi chỉ còn mình đối diện với chính mình trong nỗi cô đơn. Cũng đừng đẩy xa hơn nữa ý tưởng đó, để kết luận Bà huyện Thanh Quan vốn có gốc gác là Chăm, tuy không ít người Đàng Ngoài đích thực là người Việt gốc Chăm (người Chăm phải ra Đàng Ngoài nhập cư, từ thời Lý đến thời Nguyễn*).

 

[* Có bao giờ họ muốn trở về Panduranga cũ

– Ninh Thuận, Bình Thuận ngày nay – ?].

 

      Tôi nghĩ thi sĩ đài các, trang trọng rất mực trong ngôn từ thơ ca này có thể bị ám ảnh về biên giới lịch sử bởi câu sấm kí của Trạng Trình: “Hoành Sơn nhất đái vạn đại dung thân” (Đèo Ngang một dải vạn đời dung thân), khi chuá Nguyễn Hoàng đến xin gặp Trạng Trình để tham khảo ý kiến. Mặc dù trong thực tế, sông Gianh mới là biên giới Đàng Trong – Đàng Ngoài, nhưng trong tâm thức người Đàng Ngoài, Hoành Sơn (Đèo Ngang) mới là biên giới có tính lịch sử.

      Phải liên hệ với các bài thơ khác của Bà huyện Thanh Quan, nhất là “Thăng Long thành hoài cổ”, khi cảm thụ “Qua Đèo Ngang”.

 

(8) Phong trào Thái Bình thiên quốc (bài Thanh phù Hán) ở Trung Hoa do Hồng Tú Toàn lãnh đạo; về sau biến tướng thành giặc Cờ, quấy nhiễu các tỉnh biên giới nước ta để chiếm cứ đất, xưng hùng xưng bá.

 

(9) Tạ Văn Phụng là một giáo dân, có tên thánh là Pierre (Phê-rô). Tuân theo lời các cố đạo, các tên thực dân Pháp, Tây Ban Nha, y mạo danh là hậu duệ vua Lê, với cái tên Lê Duy Phụng hoặc Lê Bảo Phụng. Pierre Tạ Văn Phụng gây nên một cuộc nổi loạn phản quốc, kéo dài nhiều năm, tạo thêm sức ép ở phía Bắc Kì, để triều đình Huế phải kí nhượng ước Nhâm tuất 1862, và mưu toan lập "xứ Bắc Kì thuộc Pháp "bảo hộ"". Sau khi đạt mục tiêu, thực dân, cố đạo Pháp và Tây Ban Nha liền bỏ rơi Pierre Tạ Văn Phụng! (10) Nazaret, quê hương của Chuá Jésus. Theo Kinh Thánh, lúc Đức mẹ Maria sinh ra Chuá Jésus, trên trời có xuất hiện một ngôi sao lạ. Ngôi sao này dẫn đường cho ba vị vua Trung Đông đến chầu.

 

(11)  Không phải chỉ khi đề cập đến Gia Long (Nguyễn Ánh), mới cần nhận thức theo quan  điểm lịch sử - cụ thể, nhưng không thể không nhấn mạnh như thế khi cần làm sáng tỏ, thoả đáng thêm về vấn đề này.

      Chủ quyền Đất nước dưới chế độ quân chủ cũng là một hình thức quan hệ sở hữu phong kiến (Đất nước và thần dân là tài sản và tôi tớ của hoàng tộc cầm quyền, nối đời thừa kế). Do đó, Nguyễn Ánh (Gia Long) đánh đổ triều Tây Sơn (ba anh em Nguyễn Huệ và Nguyễn Quang Toản) là để giành lại cái gọi là quyền sở hữu Đất nước Đàng Trong và thần dân của dòng họ mình, và thừa kế luôn cả Đàng Ngoài mà dòng họ ông ta có công trung hưng (vai trò công thần của Nguyễn Kim). Chủ quyền Đất nước và nhân dân được xác lập theo quan hệ sở hữu phong kiến về tài sản và nô bộc là một quan niệm phản động, cực kì phản động, nếu đứng ở giác độ dân chủ để phê phán. Tuy nhiên, ở cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, Nguyễn Ánh vẫn chính nghĩa theo quan niệm phong kiến! Và cũng cần khẳng định rõ: mối quan hệ giữa Nguyễn Ánh và cố đạo thực dân Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) chỉ là quan hệ lợi dụng lẫn nhau mà thôi! Sau khi nắm được ngai vàng hoàng đế, chính Gia Long (Nguyễn Ánh) đã hạn chế sự bành trướng Thiên Chúa giáo! Như thế, trên cơ sở đó, có thể có một nhận định: Quang Trung (Nguyễn Huệ) đáp ứng được yêu cầu bức thiết của lịch sử là phải thống nhất Đàng Trong - Đàng Ngoài (mặc dù công lao ấy phần nào còn bị hạn chế do tình trạng tam phân giữa ba anh em Tây Sơn). Tuy nhiên, Gia Long (Nguyễn Ánh) không phải không chính nghĩa, xét theo quan hệ sở hữu phong kiến về vương quốc, thần dân; và Gia Long còn kế thừa cả sự nghiệp thống nhất Đàng Trong - Đàng Ngoài của Quang Trung một cách tốt đẹp. Đó không phải là một nhận định "ba phải", mà xét trên cơ sở sự thật lịch sử và xét theo quan điểm cụ thể - lịch sử tiên tiến, khoa học nhất của chúng ta, trong thời đại dân chủ hiện nay. Mặc dù đối với chúng ta hiện nay, chế độ phong kiến nói chung (chứ không phải chỉ riêng triều Nguyễn) vốn đã trở nên quá lạc hậu, cực kì phản động, "một đi, không bao giờ trở lại", nhưng cũng phải công bằng, thỏa đáng trong việc nhận định lịch sử.

      Nói một cách giản dị, Nguyễn Ánh không dễ dàng gì để mất vào tay Tây Sơn sự nghiệp suốt hai trăm năm của dòng họ ông ta. Đó là sự nghiệp chín chuá Nguyễn đã lãnh đạo nhân dân Đàng Trong khai phá đất phương nam, từ Phú Yên đến Cà Mau!

      Cũng nói một cách giản dị, nếu lấy tiêu chí dân chủ hiện nay, nhất là dân chủ xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực sở hữu ruộng đất (sở hữu toàn dân hay còn gọi là công hữu), để nhận định về chế độ phong kiến quân chủ ... rồi trách cứ, thì chẳng khác nào trách cứ sao Nguyễn Du không sáng tác Truyện Kiều trên máy vi tính và phát hành trên mạng VnExpress hoặc Cinet! Nhưng có người sẽ vặn lại tôi: Đâu rồi quan điểm so sánh đồng đại? Từ năm 1848, giữa thế kỉ XIX, Karl Marx và Fridrich Engels đã xuất bản Tuyên ngôn Đảng Cộng sản kia mà! Tôi chỉ biết bảo người ấy nhìn ra thế giới ngay vào thời điểm này: Hiện còn bao nhiêu nước theo chính thể quân chủ lập hiến (lập hiến nhưng vẫn còn vua chuá!)? Còn năm 1848, cách thời điểm Gia Long lên ngôi (1802) đến bốn mươi sáu (46) năm! Nếu chọn thời điểm so sánh tương đồng, phải là 1789, năm cách mạng tư sản Pháp nổ ra và cũng là năm Quang Trung đánh tan hai mươi vạn quân Thanh, triều đại vua Lê - chuá Trịnh hoàn toàn tiêu tan; và lúc đó, Nguyễn Ánh vẫn còn trường kì chiến đấu khôi phục. Nhưng cách mạng tư sản Pháp tồn tại không bao lâu; rồi chính giai cấp phong kiến Pháp cũng xé toạc Tuyên ngôn Nhân quyền, Dân quyền 1789 * để phục hồi đế chế quân chủ! Vả lại, nên hiểu giới hạn tầm nhìn thời bấy giờ, cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX, trong điều kiện chung là thông tin liên lạc còn hạn chế. Do đó, giới hạn tầm nhìn thời bấy giờ là chỉ trong phạm vi khu vực Đông Nam Á và rộng hơn, là phạm vi châu Á... Hơn nữa, tầm nhìn còn bị quy định bởi bao nhiêu điều khác, nhất là nền tảng dân trí toàn xã hội! Hiểu như thế, mới thật là lịch sử - cụ thể. Không nên kéo lùi lịch sử hiện tại vào sự lạc hậu (tụt hậu), cũng không nên cưỡng bức lịch sử quá khứ phải thật dân chủ xã hội chủ nghĩa về quyền sở hữu Đất nước, tức là quyền làm chủ Đất nước (đúng nghĩa là dân chủ đích thực, chứ không phải trò lừa từ ngữ *).

 

[* Đây không phải chỗ để đề cập đến các quyền dân chủ cụ thể khác, về chính trị, xã hội, văn hoá...].

 

      Ngoài ra, tưởng cũng cần nhắc lại một nhận định xác đáng và công bằng của nhiều nhà nghiên cứu sử học về Gia Long Nguyễn Ánh: Ông là một con người có nghị lực mạnh mẽ, vị vua sáng nghiệp từ hai bàn tay đã trắng (có khi quân lính không còn một đội, lương thực không có để dùng). Ông chỉ có một điều kiện thuận lợi, ấy là lòng trung thành của nhân dân Đàng Trong đối với các chuá Nguyễn tiền bối. 

      Ở chú thích này, tôi chỉ nhấn mạnh đến nghị lực mạnh mẽ hay còn gọi là đức tính kiên cường của Nguyễn Ánh, nhất là sự nghiệp thống nhất Tổ quốc, từ Nam Quan đến Cà Mau. Và khi so sánh tổng bí thư Lê Duẩn với Quang Trung, Gia Long ở ba khía cạnh đó, tôi hiểu "so sánh nào cũng có sự khập khiễng".

 

04.HB3

& 26.02.HB4

(07.02 G. thân HB4).

 

TXA.

 

 

 

 

 

 

XIN TÌM ĐỌC:

ª

TIỂU SỬ BIÊN NIÊN

KÌ VĨ PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN NGUYỄN VĂN TƯỜNG

niên biểu  –  dạng sách dẫn

(tiện lợi hơn cho việc tra cứu khi đọc truyện sử kí về NVT.)

Trần Xuân An biên soạn

ªª

NGUYỄN VĂN TƯỜNG,

“NHỮNG NGƯỜI TRUNG NGHĨA TỪ XƯA,

TƯỞNG KHÔNG HƠN ĐƯỢC”

khảo luận và phê bình sử học của Trần Xuân An

ªªª

PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN NGUYỄN VĂN TƯỜNG

Truyện kí – khảo cứu tư liệu lịch sử

(bốn tập)

Trần Xuân An

 

 

 

 

NHÀ XUẤT BẢN:

 

2003

 

CHỊU TRÁCH NHIỆM XUẤT BẢN:

 

 

BIÊN TẬP:

 

 

BÌA:

 

TRÌNH BÀY:

 

CHỚP ẢNH CHÂN DUNG TÁC GIẢ:

 

CHỮA BẢN IN:

 

 

In 1. 000 cuốn, khổ 14,5 x 20,5 cm,

tại Xí nghiệp in:

Số đăng kí kế hoạch xuất bản:

do Cục Xuất bản cấp ngày:

Quyết định xuất bản:

In xong và nộp lưu chiểu trong tháng:

 

 

GIÁ:

 

 

________________________________________

 

 

M Ộ T   S Ố   G H I   C H Ú  

( T Ạ P   L Ụ C  K Ỉ   N I Ệ M ) 

K H I   T H Ự C   H I Ệ N   B Ả N   T H Ả O :

 

 

HAI BẢN ĐÃ IN, SAO CHỤP, KHOẢNG 20 CUỐN:

 

+++ Bản thứ nhất, do anh Lê Ký Thương và chị Nguyễn Thị Kim Quy xếp chữ vi tính từ bản thảo viết tay của Trần Xuân An, theo hệ QuartXpress, font VnTimes, vào những tháng cuối năm 1997.

+++ Bản thứ hai, TXA. có sửa chữa, bổ sung, do Võ Thị Lan Hà (con gái anh Nguyên Minh) và Tạ Thị Vân xếp chữ chèn vào, trên cơ sở đĩa mềm của bản thứ nhất, theo hệ Adobe PageMaker 7.0, font VnTimes, VNI-Times và VNI-Centur, vào những tháng từ 6 đến 8, năm 2001.

 

HAI BẢN CHƯA IN, CHƯA SAO CHỤP:

 

+++ Bản thứ ba A, vẫn giữ nguyên nội dung, câu chữ như bản thứ hai, Trần Xuân An chuyển sang hệ Word 2000, font VnTimes (từ trang 1 đến trang 465) và font VNI-Times (phần phụ lục, từ trang 466 đến trang 560), vào hai tháng 3 & 4. 2003 (hoàn tất: 25. 04. 2003 [24.3. Quý mùi HB.3]), để tiện dụng.

+++ Bản thứ ba B, cũng vẫn giữ nguyên nội dung, câu chữ như bản thứ hai, nhưng có bổ sung thêm một bút kí. Tác giả đã chuyển thành font VnNCentury và font VNI-Centur, cỡ bát chữ lớn hơn (4 inches 3 vạch x 6 inches rưỡi [= 6 inches 4 vạch]), vào ngày 29. 06. 2003.

 

BẢN ĐÃ IN (bản gốc vi tính):

 

+++ Bản thứ ba C chính thức này đã được sửa chữa, bổ sung vào ngày 25.10.2003 (mùng 01 tháng 10 Quý mùi HB.3), tạm xong vào lúc 15 giờ 17 phút ngày 09.10.2003 (16 tháng 10 Quý mùi HB.3. Hoàn tất vào ngày 19.12.HB.3 (26.11. Quý mùi HB.3). Bản in vi tính lần thứ ba C này được thực hiện tại Trung tâm Đào tạo & bồi dưỡng tin học ứng dụng TP.HCM., 27 Phạm Văn Hai, Phường 1, Q. Tân Bình, TP. HCM., với sự trợ giúp của anh Nguyễn Phi Tuyến (phụ trách vi tính - photocopy), có kèm theo bản đính chính. Bản hoàn chỉnh (đã chữa lỗi in ấn, có bổ sung vài chỗ) được thực hiện tại nhà riêng của tác giả (TXA.), bằng máy in hp LaserJet 1300.

 

Xin lưu ý:

 

Khi chuyển hệ mã (VNI-Windows sang Unicode) và kiểu chữ (font VNI-Centur sang font Arial), những dòng, những từ ngữ được cố ý in nghiêng hoặc in đậm đã bị biến đổi một cách lộn xộn. Do đó, chỉ còn một cách là phải đọc lại và trình bày lại (in nghiêng, in đậm…). Hoặc, đơn giản nhất là nhất loạt đều không in đậm và đều không in nghiêng (mặc dù như vậy thì hơi đáng tiếc, nhưng có lẽ cũng không đến nỗi nào).

 

 

Kính mong người đọc lượng thứ. Xin cảm ơn.

 

 

TRẦN XUÂN AN

16 giờ ngày 16.11.HB.3

(23.10. Quý mùi HB.3)

23 - 29.11.HB.3

 

Khoảng 08 giờ 01.12.HB3. -

10 giờ 32 phút, ngày 02.12.HB3.

(08 - 09.11 Q.mùi HB3.)

17 giờ 17 phút, ngày 04.12.2003

(11.11. Quý mùi HB.3).

15 giờ 25 phút, ngày 09.12.HB.3

(16.11. Q. mùi HB.3).

 

09 giờ 23 phút,

ngày 12.12.HB.3 (19.11. Quý mùi HB.3)

và 15 giờ 38 phút, ngày 18.12.HB3 ( 25.11 Q.mùi HB3).

 

Hoàn tất vào ngày 19.12.HB.3 (26.11. Quý mùi HB.3).

 

 

Đính chính xong vào lúc 21 giờ 30 phút,

ngày 16.01.HB.4 (15.12 Quý mùi HB.3 - 4)

tại Tp.HCM.

 

TXA.

 

 

Cáo lỗi

 

Trong tiểu thuyết này, trên các trang 200.b, 200.c, 370.b, 370.c, tôi có mạn phép sử dụng lại bốn tấm ảnh của các tác giả: Sĩ Sô, Hồ Thanh Thoan, Thảo Ngân, Đoàn Vân Đạt, Nguyễn Khoa Nhật. Các tấm ảnh ấy vốn đã được đăng tải trong cuốn Quảng Trị, tiềm năng & triển vọng đầu tư do Sở Kế hoạch & đầu tư Quảng Trị xuất bản, vào năm 1996, ở các tr. 11, 26, 45, 50. Rất tiếc là ban biên tập cuốn sách quên ghi chú cụ thể tên tác giả nhiếp ảnh ngay dưới mỗi tấm ảnh. Cũng xin cáo lỗi là tôi cũng chưa kịp liên hệ để biết rõ và để xin phép các tác giả nhiếp ảnh kể trên.

Xin thành thật cáo lỗi.

Trân trọng cảm ơn.

 

Trần Xuân An

 

 

 

 

ĐÃ GỬI & TẶNG

BẢN IN VI TÍNH LẦN THỨ BA NÀY

 

1. Anh Chinh Văn (01 cuốn chưa đính chính & 01 cuốn đã đính chính)

2. Anh Nguyễn Đông Nhật (bản hoàn chỉnh [đã đính chính])

3. Inrasara (bản hoàn chỉnh [đã đính chính] kèm theo phần ngoài sách [bài thơ về Quang Trung cùng các chú thích cho bài thơ ấy])

4. Võ Văn Luyến (bản hoàn chỉnh [đã đính chính] kèm theo phần ngoài sách [bài thơ về Quang Trung cùng các chú thích cho bài thơ ấy])

5. Lê Phước Sinh (bản hoàn chỉnh [đã đính chính] kèm theo phần ngoài sách [bài thơ về Quang Trung cùng các chú thích cho bài thơ ấy])

6. Chi nhánh Nxb. Thanh Niên (Nguyễn Công Bình)

7. Hai cuốn lưu (01 cuốn chưa đính chính & 01 cuốn đã đính chính [bản hoàn chỉnh đã đính chính kèm theo phần ngoài sách [bài thơ về Quang Trung cùng các chú thích cho bài thơ ấy]) (*).

TXA.

 

GHI CHÚ THÊM Ở CUỐI SÁCH: ĐÃ GỬI & TẶNG BẢN IN VI TÍNH LẦN THỨ BA NÀY:

 

(*) Đã nộp bản thảo MHBS. (có phụ lục II, “Về vài trang đảo ngược sự thật lịch sử trong VNVQS.”; không có phần ngoài sách – bài thơ về Quang Trung) tại NXB. Văn Nghệ TP.HCM., ngày 15.02. 2005 (mùng 7 Tết Nguyên đán Ất dậu) cùng với bản thảo Ngẫu hứng đọc thơ. 

 

 

 

 

28.02.2004

 

TÁC GIẢ GIỮ BẢN QUYỀN

TỪNG CHỮ, TỪNG Ý TƯỞNG CỦA MÌNH.

TRÂN TRỌNG VÀ THÀNH THẬT BIẾT ƠN.


 


 

 

 

Để tìm hiểu một giai đoạn lịch sử

và một nhân vật lịch sử:

NGUYỄN VĂN TƯỜNG

(1824 – 1886),

kẻ thù lớn nhất của chủ nghĩa thực dân Pháp”,

“những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được”,

XIN TÌM ĐỌC:

 

PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN

NGUYỄN VĂN TƯỜNG

(1824 – 1886)

truyện - sử kí - khảo cứu tư liệu lịch sử

trọn bộ bốn tập

 

(985 trang,

kể cả phần đính chính,

cỡ 16 x 24 cm)

 

tác giả: TRẦN XUÂN AN

 

       

 

Hội đồng Tư vấn, Phản biện và Giám định

thuộc Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam giám định;

Tổng thư kí Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam

DƯƠNG TRUNG QUỐC

viết lời giới thiệu

 

NXB. Văn Nghệ TP. HCM. ấn hành, 12. 2004

PHÁT HÀNH TẠI CÁC NHÀ SÁCH THUỘC Cty FAHASA

62 Lê Lợi, Quận I

40 Nguyễn Huệ, Quận I

TP. HCM.

 

 

 

 

 

Bổ sung trong lần đưa "Mùa hè bên sông" lên "Website Trần Xuân An",

10 tháng 05 HB6 [ 2006 ]:

 

Trân trọng kính mời xem thêm trang Diễn đàn thuộc Website này:

 

+++ Tạp chí điện tử Giao Điểm tháng 12 - HB5 ( 2005 ):

http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1205_txa-duonglich.htm

 

+++ Tạp chí điện tử Giao Điểm tháng 01 - HB6 ( 2006 ):

http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_I06/106_txa-tiengNambo.htm

 

+++ Tạp chí điện tử BBCVietnamese,  tháng 3 HB6 [ 2006 ]:

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2006/03/060307_tranxuanan.shtml

(bài viết, bài trả lời của TXA. cùng những ý kiến thảo luận của nhiều độc giả)

link Diễn đàn BBC: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/

hoặc BBCVietnamese Search  )

 

+++ Tạp chí điện tử Giao Điểm, tháng 3 HB6 [ 2006 ]:

http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_I06/306_txa-dadang.htm

cũng là bài viết trên của TXA.;

và bài trao đổi với TXA. của Nguyễn [Sài Gòn]:

http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_I06/306_ykien-nguyen.htm  

bài trao đổi của Trần Nguyễn Dụng [TP. HCM.]:

http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_I06/306_ykien-2parties.htm  

 

 

( hết )

 

Bổ sung tư liệu tham khảo (ngày 20-04 HB6 [ 2006 ]):

Phụ lục 3 về nhân vật lịch sử LÊ DUẨN

 

 

E-mail: tranxuanan_vn@yahoo.com

Cập nhật 06/29/09                                                                   

Trở về trang chủ

                                                                 

 

hidden hit counter

 
DOTSTER, MSN. & YAHOO ...  /  HOST, SEARCH & CACHE  
 
 
 
Comments