ĐÀ LẠT, BA MƯƠI NĂM
Phố trời vẫn hoài xanh
Nhưng chiều xanh chừng khát
Ba mươi năm úa nhanh
Tóc xanh tôi đã nhạt
Nghe xa hơn thông hát
Trên dốc gió, mơ hồ
Chói dày thêm tiếng phố
Lòng rừng phai hoang sơ
Lẽ nào tôi hoài cổ
Phố nhớ cứ nhỏ xinh?
Sao thơ thời đói rét
Thèm bung hết hồn mình!
Bao nắng mưa, chút tình
Không ruỗng khô bợt bạt
Nhưng tìm đâu khung hình
Hư vô làn hương ngát!
Tôi về đây, Đà Lạt
Chạm mặt mình, hai mươi
May đồi còn xanh cỏ
Thuở tìm nhau ngang trời…
Mặc đồng hồ tắt rồi
Vòng số xanh tường vôi
Rời phòng, tôi chậm bước
Không tuổi bao nụ cười…
Đà Lạt xanh thắm tôi.
Trần Xuân An
16:, 06.09 HB8
7:, 07.09 HB8
Viết tại Nhà Sáng tác Đà Lạt
KHI RA KHỎI PHÒNG VIẾT, VỚI BẠN
Kính tặng anh Mường Mán
và quý tặng bạn Nguyễn Lương Hiệu
TXA.
Một đoá đào nương nói cười
Cổ thuyền áo lụa, gấm ngời yếm xưa
Câu ca dao bị bỏ bùa
Tôi ngồi chay tịnh ngỡ chùa không tên
Một đoá đào nương ủ len
Cụng li, rượu sánh tràn lên ca từ
Khúc hát nào cũng bị thư
Căng hồng nốt ảo, trót hư thơ này
Đà Lạt, một dốc phố say
Tìm đâu nét thật nơi đây cõi trời
Rủ nhau thả bước rong chơi
Đỉnh đồi – đỉnh sóng, nổi trôi giấc đùa !
Trần Xuân An
9: 38’,07.09 HB8
Viết tại Nhà Sáng tác Đà Lạt
ĐÀ VÀ LẠT
Cạn rồi những cơn mưa, đầu tháng chín
Đà Lạt càng xanh, nắng lạnh quãng chiều
Đêm ngát xanh, mỗi vầng trăng ngời sáng
Trang giấy ban mai, xanh biếc lời yêu?
Vẫn Đà Lạt giữa mùa thu nguyệt lịch
Thoang thoảng đâu đây thoáng gió cổ thi…
Thơ ngừng lại, đẩy anh về phố chợ
Cà phê, trống cơm, hoa níu chân đi
Anh tìm gặp Hồ Xuân hương thuở đó (*)
Bà vẫn xa. Sót vạt áo xanh lam
Một thuở rong rêu, không ai buồn giặt
Giờ óng lên, óng từng sợi tơ tằm?
Anh cười anh, như chưa từng đọc sách
(lần đầu tiên anh quên hết sách rồi!) (*)
Như lũ trẻ say trăng cười vỡ trống
Thuở vỡ ra: Đà Lạt – phố trên trời!
Lại vỡ ra: phố trời cao – Đà Lạt
Ai mặc áo đà, ăn lạt, xa kia (**)
Anh chợt hiểu, ném mớ ba mớ bảy
Hồ Xuân Hương thanh thoát cõi đi về
Đà Lạt tuyệt vời mùa mưa ấm áp
Càng Đà Lạt hơn: cuối chạp ra giêng
Trăng tuổi thu non, nửa dương (Xuân) tục
Nửa âm (là Hương) hẳn vẫn rất thiền (*).
Trần Xuân An
7-8.9 HB8
Viết tại Nhà Sáng tác Đà Lạt.
(*) Địa danh chính thức có nghĩa là hồ nước Xuân Hương, nhưng có lẽ người đặt tên đã cố tình gợi lên sự đồng nhất giữa hồ nước ở trung tâm thành phố Đà Lạt với nhà thơ Hồ Xuân Hương, “Bà chúa thơ Nôm” (danh xưng tôn vinh của Xuân Diệu) và cũng là tác giả tập thơ “Lưu hương ký”. Về khía cạnh khác, không một tư liệu nào ghi nhận Hồ Xuân Hương có thời gian sống thiền như một cư sĩ, ni sư, cho dù gần đây có một số nhà nghiên cứu xem “Đồ Sơn bát vịnh”, tám bài thơ viếng cảnh chùa ở Đồ Sơn, cũng là tác phẩm của Hồ Xuân Hương (?). Dù sao, “Đà và Lạt” cũng chỉ là một bài thơ, khi viết, tôi đã khẳng định rõ: tôi tự cho phép mình bông đùa với thiện ý và lòng kính trọng. TXA. (Bổ sung chú thích: 02-10 HB8).
(**) Địa danh phiên âm từ địa danh gốc, tiếng K’Hor: Từ Đạ Lạch (suối Lạch), trở thành Đạ Lát, Đa Lát rồi Đà Lạt. (Bổ sung chú thích: 02-10 HB8).
NHÀ THƠ VÀ LANG BIANG
Với chiếc xẻng là ngọn bút
Người viết đào từ dòng đầu – mặt đất – đến đáy trang…
Như nhà leo núi xuất phát từ chân núi
Từng bước nhọc nhằn, chạm trán với mây ngàn
Xe đưa lên lưng chừng Lang Biang (*)
Chúng ta trở thành du khách
Chiêm nghiệm tháng năm đào từng lớp đất
Vỉa sâu như tầm núi cao
Nhưng không phải trời ban đất trao
Kim cương trong lòng, hổ phách sau vầng trán
Kỉ niệm chết kết tinh, tư tưởng sống ứa trào
Trong mỗi đời người, có những giờ khắc nào chăng
tính bằng sức bay ánh sáng?
Lang và Biang không làm văn chương
Tình yêu hai người dựng nên đỉnh cao vòi vọi
Lang Biang, âm vang lóng lánh kim cương
Thuốc thần kì cho những đôi trái tim tức tưởi
Chúng ta sống thấp thua hình tượng của chúng ta (**)
Sống nông cạn thua bao điều trăn trở
Chỉ là hạng hai: đỉnh núi Ra Đa (*)
Như địa đạo hồn người, chưa tận cùng, ngạt thở!
Trần Xuân An
Sáng 09.09 HB8, lúc 9 -10:31’,
viết tại Nhà Sáng tác Đà Lạt
(*) Núi Lang Biang (Lang Bian): 2163m
Núi Ra Đa: 1932m (độ cao tính từ mặt biển).
(**) Hình tượng nhân vật, hình tượng tác phẩm.
BIẾN MẤT, ĐÔI KHI
Phố trời không bao giờ bạc tóc?
Trăm năm biếc giữa nghìn năm xanh
Em Huế trắng đã hồng Đà Lạt
Khiến ai, trót già cỗi, sao đành!
Đà Lạt chỉ vài ngày biến mất
Mù sương sa, mây lấp phố đồi
Tóc đôi khi tím len trắng lụa
Em che hồng má đỏ và môi
Tuổi trẻ tôi bỗng dưng thất lạc
Nhìn vào trí nhớ, mắt trông xa:
Gã trai nào quàng vai em đọc
Thơ tình tôi mới viết hôm qua!
Nhắm mắt, cho lang thang kỉ niệm
(sớm mai trại viết đã đi hoang!)
Cúi xuống, kính trên bàn, ai đó?
Tóc còn xanh so với giấy chăng?
Tôi biến mất khỏi tôi, tìm nắng
Lên đồi thông và xuống lũng hoa
Thời gian có là len và lụa
Liệu gặp em tôi vẫn nhìn ra?
Trần Xuân An
05: - 06:50’, 12.9 HB8
Viết tại Nhà Sáng tác Đà Lạt
NGÔNG TẾU
VỚI HAI CÂY TÙNG TRƯỚC SÂN
Kinh ngạc, sững sờ, chắp tay kính
Gốc tùng, ngàn sợi gỗ vấn giằng
Trên đời, vạn loài cây thớ dọc
Duy các ngươi quá đỗi hiên... ngang
Ngang tàng, lặng lẽ gồng, vỏ toác
Hay để xích thừng cho ấm chăng?
Ta lùi lại, thấy tùng trăm ngạnh
Lao lên trời, tên vút, thẳng băng
Bỗng tùng hoá uy nghiêm đài tháp
Nghìn xưa sau Tổ quốc ghi công
Ta xin biến thành lư nhang thép
Tóc dựng lên, toả khói, mênh mông
Bạn thơ bảo: trong tùng thớ dọc
Ta mỉm cười: đặc ruột thẳng lòng
Chất dọc ngang đúc thành xương thịt
Máu hổ phách cuồn cuộn vàng ròng
Các ngươi nhắc ta thương Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi xa, tùng lại rất gần
Cũng muốn kết các ngươi làm bạn
Tùng cao, ta… chồng sách kê chân!
Ta khiêm tốn để tùng đừng ngại
Riêng đỉnh thơ ta có ngót ngàn
Trần Xuân An, tùng ơi, nhớ nhé
Dọc bên ngoài, trong khá ngông ngang!
Trần Xuân An
13 -14:40’,12.9 HB8
Viết tại Nhà Sáng tác Đà Lạt
GÓC CHIỀU BẢO TÀNG LÂM ĐỒNG
Nhân dịp tham quan hai ngôi nhà sàn Chiau Mạ, K’Hor;
Tặng thuyết minh viên: cô gái Rơ-ông Ben Len-ni (gốc xứ Lang Biang) và anh Đăng Toàn.
TXA.
Vào nhà, quỳ trước cây nêu
Mượn em cần rượu, toả đều tứ thơ
Ngước trông lên dưới trang thờ
Cánh liền đôi phượng bao giờ, còn bay
Ai về ở rể bên này
Nguyện đời giữ lửa, thóc đầy gùi hương
Gian kia pạp mea nồng thương (*)
Giàn treo ngô giống, phên buồng: nia tim
Nỏ tên xà gạt lắng im
Ú chum vịm choé đợi tìm cồng chiêng
Yêu xưa, dải khố treo nghiêng
Váy hoa văn trắng, áo viền đỏ tươi
Ra thang bước xuống triền đồi
Tôi trẻ nhỏ trước mặt trời âm vang
– chiêng ngân – hướng vạn buôn làng
Ai về nguồn với bảo tàng cùng em?
Trần Xuân An
23:40’,12.9 HB8
Viết tại Nhà Sáng tác Đà Lạt
(*) Pạp, mea: cha, mẹ.
RỪNG NON BỘ MÊNH MÔNG
Viết tặng hướng dẫn viên Lưu Do và các nhà văn cùng đoàn
TXA.
Ta về lại với thiên nhiên (*)
Chào nguồn Suối Tía đọng Tuyền Lâm xanh
Lối rừng thả bước uốn quanh
Nhà chim treo tận trên cành ngọn thông (**)
Bắc thang trăm bậc xa trông
Ngó gần xuống bếp lửa hồng chờ ai
Ta về rừng núi sớm mai
Chào khe trời ngọt vỗ hoài tiếng xưa
Này đây cầu gỗ nguyên sơ
Chờ chân ai rẽ niềm mơ lối tình
Người đi về phía của mình
Dáng trường tay chắp xinh xinh ngực đồi
Ta về buôn gặp nụ cười
Chào đôi mắt thẳm nghìn đời rừng thiêng
Già làng ngước trán nghiêm hiền
Trẻ tìm từ đáp má nghiêng thẹn thùa
Ẩm trầm mẹ giã, bắp thưa
Cà phê đỏ hạt phiền mùa dần vui?
Ta về nghe tiếng ngọt bùi
Chào em sơn nữ mang gùi làm duyên
Bạn thơ ghi ảnh dành riêng
Cánh tay măng mịn thuộc quyền người xa!
Này thổ cẩm Đạ R’Hoa
Hay ai Tùng Nghĩa làm quà gửi em?
Ta về hồ biếc, bên thềm
Chào voi hiền hậu vòi thèm mía lau
Bỗng dưng quặn nhớ rừng sâu
Pongour xưa hú bạc đầu Núi Voi
Vang lên hăm lăm năm rồi
Vọng từ cây cỏ bồi hồi Đá Tiên
Ta về soi ảo bóng thiền
Sắc như non bộ bên triền đời không:
Hồng hoang sinh thái cõi bồng
Cho du khách giũ long đong phố phường
Chợt trưa chim chóc kêu thương
Ảo thanh nào giữa vô thường Nam Qua
Ta về nhìn lại lòng ta
Một thời đói, đói củi và đói ăn
Đến bạn thơ cũng giỏi săn
Chim trời lìa phố, rừng dần vắng chim
Khúc ngo dồn nhựa, ruổi tìm
Trăm cây thông ngã, không kìm rừng đau
Ta về ngồi xuống ngó nhau
Kia chăng giả tướng? Đó đâu giả hình?
Học trong ảo hoá chút tình
Thương qua tiếp thị thoáng xinh hư huyền
Tạ ơn núi đứng xanh nghiêng
Ta rao rất thật, báo chuyền tay ai.
Trần Xuân An
05: -13:55’,14.9 HB8
Viết tại Nhà Sáng tác Đà Lạt
(*) Bảng treo ven đường: “Come back to the nature”.
(**) Nhà sàn trên cành cây cao, gần ngọn thông.
THIỀN KHÁCH
Tiếng còi tàu réo ngày xa
Thuở ga ngập cỏ, lòng ta đường cùng
Trời Đà Lạt vẫn không ngừng
Thoắt sớm mai đã chập chùng nắng trưa
Chuyền tàu Trại Mát lạnh lùa
Trôi trong mơ trôi bốn mùa sáng nay…
Vườn hoa cắm trại che ngày
Đêm cho đất ngủ giấc say hồng hào…
Đến ga Trại Mát rồi sao
Lên chùa, tôi nhé, cho cao mắt nhìn
Ngoài chùa, lòng lọc như phin
Thấy trong bã chữ chưa in cặn nhiều
Tiểu trong sân quét lá kiêu?
Chín năm ngó vách, triết siêu ngoảnh đời?
Vào bên tịnh thất, tôi ơi
Trước cây hồng, gột thơm lời yêu em
Lên tàu, tàu lướt êm êm
Về ga, lòng bạn cũng mềm trang kinh
Chuỗi lần đừng lẫn tên mình
Tù và, mua nhé, vỡ thinh không nào
Vỡ mưa hồng chốn lao xao
Tù và thổi nắng ngọt ngào vô thanh.
Trần Xuân An
15: -16:40’, 14.9 HB8
Viết tại Nhà Sáng tác Đà Lạt
Xem tiếp phần 2: 1 bài hỏi – đáp; phần 3: 1 truyện ngắn
http://tranxuanan.writer.googlepages.com/baimoi-sachmoi-tinmoi-17
Đưa lên WebTXA.: PDF., lúc 8 giờ, 22-9 HB8
______________________________
► 22-9 HB8 (2008): Từ ngày 06-9 đến 21-9-''08, Hội Nhà văn TP.HCM. đã tổ chức trại viết văn chương cho 15 hội viên (Nhật Quỳnh, Ngọc Tuyết, Kim Quyên, Kim Liên, Kim Anh, Trần Trí Thông, Nguyễn Tố Hoài, Mường Mán, Nguyễn Lương Hiệu, Đức Ánh, Lê Ngọc Rệ, Trần Xuân An, Phan Ngọc Thường Đoan, Phạm Thị Ngọc Liên), do nhà văn Trần Thanh Giao làm trưởng đoàn. Địa điểm: Nhà Sáng tác Đà Lạt (thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao & Du lịch). Trong những ngày đầu, các nhà văn Lê Văn Thảo, Triệu Xuân, Hoàng Đình Quang cũng có mặt. Trại viết đã được sự quan tâm chu đáo của ông Dương Văn Thắng (phó giám đốc, quyền giám đốc Nhà Sáng tác Đà Lạt) và toàn thể cán bộ, nhân viên thuộc cơ quan (cô Trang, cô Xuân...). Các quan chức lãnh đạo thuộc các ban, ngành, hội liên quan của tỉnh Lâm Đồng (ông Khuất Anh Phương, nhà thơ Trần Ngọc Trác, nhà văn Lê Công...) cùng các nhà nghiên cứu, sáng tác (TS. Phạm Quốc Ca, nhạc sĩ Dương Toàn Thiên, cử nhân Ma Nhung...), các phóng viên (Đỗ Quyên, Nguyên...), các cây bút trẻ (Hạnh...) và hướng dẫn viên, thuyết minh viên (Lưu Do, Đăng Toàn, Rơ-ông Ben Len-ni...) sở tại cũng đã bày tỏ sự ưu ái đặc biệt đối với đoàn nhà văn, nhà thơ TP.HCM.. Trại viết đã bế mạc vào ngày 20-9-''08. Đoàn đã lên xe trở về vào sáng 21-9-''08, và đến nơi vào lúc khoảng 15 giờ chiều cùng ngày.
Kính trả lời ông Lê Phương Sanh (Thành Nội, Huế)
Thưa ông,
Trước hết, xin cảm ơn ông đã báo tin cho tôi biết về suy nghĩ của một người đọc quen biết với ông, và thú thật là tôi cũng không ngờ có người lại thắc mắc về bài thơ "Nhà thơ và Lang Bian" của tôi như vậy.
Xin được nói rõ như thế này:
1) Tôi viết bài đó với thái độ khiêm tốn vốn có của bất kì người cầm bút nào (không kể những kẻ coi trời bằng vung).
2) Nhà thơ (nói chung là kẻ cầm bút) luôn luôn tự nhận mình sống thấp thua hình tượng tác phẩm (gồm hình tượng nhân vật và cả tổng thể tác phẩm) vì hình tượng tác phẩm chân chính là kết tinh hay đều hướng đến chân thiện mĩ. Nói thế, có nghĩa là không chỉ nhân vật tích cực, tốt đẹp, nhân nghĩa mà gồm cả những nhân vật tiêu cực, xấu xa, ác độc, vì những nhân vật phản diện ấy cũng đều nằm trong tổng thể hình tượng tác phẩm thể hiện chân thiện mĩ (viết về giả, cái ác, cái xấu để khẳng định hay hướng tới cái thật, cái tốt, cái đẹp, về vật chất hay tinh thần). Nhưng đó là nói chung, cũng nhằm giải thích khái niệm "hình tượng tác phẩm". Riêng bài thơ trên, tôi chỉ hướng đến hai nhân vật Lang - Bian, hai nhân vật tốt trong một bi kịch.
3) Trong bài thơ "Nhà thơ và Lang - Bian" tôi còn viết: Nhà thơ (giới cầm bút) không chỉ sống thấp thua hình tượng nhân vật tốt, hình tượng tác phẩm có giá trị chân thiện mĩ mà còn sống nông cạn thua cả hiện thực cuộc sống.
4) Đó là sự thật của mọi người cầm bút chân chính, có ý thức sâu sắc về chính mình, về quan hệ giữa bản thân với hình tượng tác phẩm của mình, giữa mình với hiện thực cuộc sống. Do vậy, tôi viết, "chúng ta" "chỉ là hạng hai", là trong tương quan ấy, chứ không nhằm xếp loại, phân hạng trong giới nhà văn, nhà thơ... Nói trắng ra, tôi đâu có tự cho rằng "chúng ta", gồm nhiều nhà văn, nhà thơ khác và cả bản thân tôi, là loại nhà văn hạng hai so với các nhà văn cùng thời hay khác thời đâu. Việc phân cấp "nhà văn địa phương" và "nhà văn trung ương (toàn quốc)" là do Nhà nước, hay do bè phái này kia, tôi đưa vào thơ làm gì cho rách việc, rách cả thơ ca!
Điểm cuối thư này, thưa ông Lê Phương Sanh, tôi sợ rằng không ai còn dám khiêm tốn nữa, nếu có người vin vào sự khiêm tốn ấy để hạ thấp người khiêm tốn. Thực ra, khiêm tốn là một đức tính, người khiêm tốn là người tự tin, tự trọng, và biết tôn trọng người đọc. Giá trị và thứ bậc của mỗi người cầm bút chính là tác phẩm. Người đọc và thời gian sẽ phân loại, xếp hạng.
Một lần nữa, xin cảm ơn ông Lê Phương Sanh đã có nhã ý cho tôi biết sự hiểu lầm của một người đọc nào đó mà ông quen biết.
Trân trọng,
Kính thư,
Trần Xuân An
15:50 -17:04, ngày 10-01 HB10 (2010)
Chú thích thêm cho rõ: Bi kịch Lang – Biang (Liang – Bian) nhằm phê phán mối thù truyền kiếp giữa hai bộ tộc Chil và Lát trong cộng đồng nhân tộc K’Hor, thuộc dân tộc Việt Nam. Bi kịch này không hề khuyến khích sự kết hôn với người ngoại quốc.