m. Bài 13-Tl.4 - Trần Xuân An -- Thơ Thái Thăng Long - con đường và hoài niệm (phần 2)

 

THƠ THÁI THĂNG LONG – CON ĐƯỜNG VÀ HOÀI NIỆM

 

Trần Xuân An

 

(Phần 2)

 

Sau khi ám ảnh chiến tranh và tâm trạng tan vỡ mô hình xã hội (một thời trở thành mơ ước) tạm nguôi đi, công cuộc Đổi mới Cởi trói cũng đã bắt đầu đi sâu, toả rộng trong hiện thực, thơ Thái Thăng Long như tiếng hót của cánh chim lần đầu tiên bay lên giữa vòm trời mênh mông. Choáng ngợp trước những chân trời mở, một phần nào đó, nhưng nhiều hơn là cảm giác chơi vơi. Bởi chơi vơi, không còn một điểm tựa nào như một thời lòng anh ngây thơ ổn định, anh tìm thấy trong tâm thức những hình ảnh vững bền qua bao năm tháng, và anh tin rằng những hình ảnh ấy mãi mãi trường cửu, bất chấp mọi bão lũ của thời thế. Đó chính là Tình yêu đương – Quê nhà – Bóng dáng mái chùa. Chúng ta có thể đọc thấy điều đó trong tập “Chiều Phủ Tây Hồ” (1994) và cả trong “Thời gian huyền thoại”  (2000) (1).

 

Nhưng đã khẳng định rằng điểm tựa vững bền, trường cửu không ở đâu xa, mà ngay trong tâm thức, cụ thể hơn là trong kí ức -- những gì đã thành dấu ấn, kỉ niệm không phai mờ --, cũng có nghĩa là trước và sau “Chiều Phủ Tây Hồ” , “Thời gian huyền thoại”, thơ Thái Thăng Long đã nhiều lần trở đi, trở lại với tất cả tâm cảm:

 

Đất đai say

Như

Ngàn năm dân ca trong câu hát...

Như ngàn năm Trái Đất

Trang sách Tình yêu khắc trên đá trơ trơ...

                               (bài Vô hạn, 01-1991, AA., sđd., tr. 7)

 

Đi đến nửa đời mình

Trở về ngôi nhà cũ...

... Mà tóc bạc tựa sương

Mắt đói khát mơ chân trời có thực

Ôi giấc mơ trăm năm sao nát vụn giữa bàn tay

                               (bài Trở về, 04-1991, AA., sđd., tr. 45)

 

Ta ngập ngừng

Mùa đông chia tay

Để mùa xuân lặng lẽ về chầm chậm

Con đường nhỏ

Ngôi chùa chuông đồng gióng

Những âm thanh hoà nhập tự tuổi thơ

Những âm thanh hương khói lơ mơ

Hồn ta thả những bến bờ xa lắm

Có một chút tình yêu gửi gắm

Ấy là mùa xuân

Mùa xuân sớm nay về

                               (bài Chia tay mùa đông, 04-1991, AA., sđd., tr. 51)

 

Đó là những đoạn thơ day dứt, thành khẩn nhất trong tập “Ám ảnh” (1992). Mười bảy năm sau, ở tập “Đồng hành thế kỷ” (2009), cũng với tình yêu đương, quê nhà và bóng dáng, âm thanh siêu thoát từ ngôi chùa, những câu thơ vẫn day dứt, da diết, thành khẩn đến nghẹn ngào, cái nghẹn ngào trong những câu thơ nén lại như không:

 

Về với cái nghèo xưa làng xóm

Về với tình xưa...

... Về với hương cau...

... Về trong yêu thương trầm mặc...

... Về với rét mướt...

... Về trong khát cháy đầu môi...

Người về

Như là mãi ở

Người về

Nước mắt ra đi

Tình yêu ẩn trong hồn đất

Chuông chùa đâu dễ bơ vơ

                               (bài Người về, 12-2006, ĐHTK., sđd., tr. 74)

 

Ngoài ý nghĩa xác lập giá trị vĩnh cửu cho tâm hồn, phải chăng trước hiện thực Đổi mới, nhà thơ Thái Thăng Long vẫn chưa thể hoà nhập, tìm thấy những giá trị mới? Hay ở tuổi chín muộn, anh chỉ có thể làm giàu có tâm hồn bằng cách đào xới bao lớp trầm tích kỉ niệm đã thành tài nguyên trong kí ức, và anh cũng tự giới hạn để có thể đào sâu, tinh luyện?

 

Ta trở về ngôi nhà cũ của ta rồi

Vẫn vậy đó không thể nào kì vọng

Một kiếp người chỉ còn khoảnh khắc

Thời gian lên men ta nhìn nhận từng ngày

                               (bài Trở về, 04-1991, AA., sđd., tr. 46)

 

Bấy giờ, mới bước vào độ tuổi bốn mươi, sao anh bi quan và khiêm tốn đến thế!

 

Tình yêu đương

 

Trong bài “Bến Dâu” (1990, AA., sđd., tr. 57), Thái Thăng Long đăm đắm ngoảnh lại nơi chốn của tuổi thơ và tình yêu đương trai trẻ. Tất cả đều còn đó trong anh nhưng đều không còn nữa trong hiện thực. Và dẫu thế nào, “với ta / Thì mãi mãi yêu Hà Nội / Hoa đào hồng lên trong sương giá mùa đông”.

 

Trong kỉ niệm tình yêu đương của anh, còn có tiếng leng keng tàu điện xưa. Tiếng tàu điện này đã một lần vang lên trong im lắng tâm hồn anh, để thành thơ:

 

Mỗi độ đông về

Ta nhớ gương mặt em

Tiếng tàu điện leng keng phố vắng //

Em ở đâu

Phố Thuỵ Khê gió lạnh?

Đôi mắt mở to ta lại nhớ về em

                               (bài Hồi ức tàu điện xưa, 04-1991, CPTH., sđd., tr. 19)

 

Không hiểu đó là đôi mắt mở to ngơ ngác, xinh đẹp của cô gái tên Hạnh (?) nào đó hay chính là đôi mắt của cô gái ngày ấy đang mở to dưới vầng trán của anh, bằng đôi mắt của anh, sau hai mươi năm anh lại nhớ về? Bài thơ có một chi tiết biểu hiện nội tâm -  phản ánh lên gương mặt chính anh, người đang nhớ thương kỉ niệm -, thật tinh tế và rất thật.

 

Chính đôi mắt đáng yêu ấy mãi còn trong anh, đến nỗi tại Sài Gòn, mới năm kia đây thôi, anh còn ghi dưới một bài thơ dòng chữ “Cuối năm nhớ tiếng tàu điện”:

 

Xa xôi đôi mắt ngây thơ...

... Tàu điện đợi em lên phố...

Leng keng mãi trong tim ta

Leng keng mãi trong hồn ta...

                               (bài Ký ức con đường, 12-2007, ĐHTK., sđd., tr. 171-172)

 

Trong khi đọc khá nhiều bài thơ về tình yêu đương của Thái Thăng Long, tôi vẫn thường xem lại bài “Xưa” (11-1993, CPTH., sđd., tr. 30-31). Tôi cũng không hiểu vì sao như vậy. Có lẽ, do ấn tượng từ bài thơ này níu kéo những ngón tay lần dở của tôi trên mấy tập thơ của anh. Đó những câu chữ tuy đẹp, nhưng nội dung thật đến tàn nhẫn, hiếm thấy trong thơ Thái Thăng Long, một hồn thơ thường nâng niu vẻ đẹp gắn liền với sự ngọt ngào, dịu dàng, đằm thắm. Ở bài “Xưa”, anh viết thế này đây về người yêu cũ:

 

Tình xưa anh còn gặp

Em giờ đây như buổi tối gió heo may

Em giờ đây xanh gầy trong nắng hạ

Em giờ đây cỏ hoang lẫn hồn hoa lá //

Hoa lá bay

Còn lại cọng cỏ gầy

Để anh còn chóng mặt // [...]

 

Tuy với ngôn từ đẹp, và nội dung thật đến tàn nhẫn, nhưng tấm lòng vẫn ngậm ngùi, khôn nguôi. Nói rõ hơn, tự thân sự thật phôi pha nhan sắc là do tàn nhẫn của thời gian và cuộc đời, chứ không phải cái nhìn và ngọn bút của nhà thơ tàn nhẫn. Anh đau xót trước sự thật tàn nhẫn ấy:

 

Tình xưa anh gặp lại

Anh tìm nơi em

Thời con gái

Hai mươi năm //

Tóc chớm bạc trên đầu

Tình xưa //

Nước mắt qua mau

Nỗi buồn giấu sau buổi chiều bên cửa...

 

Tình yêu đương ở Thái Thăng Long rất nhiều khi, nếu không nói là tất cả, đều đồng nhất với tình quê nhà. Đây là một điều không lạ trong thơ, nhất là thơ Việt, nhưng ở Thái Thăng Long, tính đồng nhất này là một nét nổi bật, hình như thể hiện cá tính rất riêng của Thái Thăng Long.

 

Quê nhà

 

Sau tất cả những ngọt ngào trong thơ nhớ về quê nhà, một trong vài làng nổi tiếng về hoa ở Hà Nội, và những đường phố thủ đô, chính công cuộc Đổi mới đã để cho Thái Thăng Long được nhìn về quê nhà với cái nhìn thật, cho dù thật đến xót xa. Tôi không nghĩ bài “Làng” là một trong những bài thơ hay của anh. Nhưng dẫu sao, đó chính là những dòng chữ được anh viết ra trong cơn bức xúc đến nghẹn ngào, ở thời điểm sau chiến tranh đến những mười lăm năm:

 

Đụn rơm rạ loen hoen như rác đùn chân bể

Vài cây xoan tung tẩy trước đông về

Làng vẫn nghèo đồng đất nhão bùn xe...

... Làng vẫn nghèo, mẹ ta vẫn xanh xao

Vó tôm tép vật vờ nơi mương máng...

... Một đời cha ta lưng còng gập xuống rồi

Vẫn mơ làng giàu, lòng thật thà như đếm...

                               (bài Làng, 06-1990, AA., sđd., tr. 41-42)

 

Tuy vậy, âm điệu chủ đạo của thơ Thái Thăng Long về quê nhà, ngoại và nội thành thủ đô Hà Nội, vẫn là sâu lắng, thiết tha và thơ mộng.

 

Nếu xinh gọn và trong sáng, có lẽ “Hương cốm” (9-1997, TGHT., sđd., tr. 99) là một trong những bài như thế, nhất là ở câu kết: “Tắm hồn thu bằng hương cốm quê”.

 

Mặc dù rất thích những câu thơ anh viết về sông Hồng, như hai bài ở hai trang đầu của hai tập “Ám ảnh”, “Đồng hành thế kỷ”, nhưng tôi vẫn nghĩ đến bài thơ có kết cấu thuộc loại hiếm hoi trong thơ Thái Thăng Long: “Tiếng chày Yên Thái” (TGHT., sđd., tr. 66-67). Thơ anh thường không cố ý khấc một nét nào đó vào hồn người đọc, mà mở rộng hồn người đọc ra, bảng lảng, mênh mang, siêu thoát. Đọc thơ anh, người ta nhớ vài câu, vài đoạn hay hay cả bài hay, nhờ vẻ đẹp của ngôn từ và nhờ nhạc tính, đặc biệt là nhạc tính như thôi miên ở tập “Chiều Phủ Tây Hồ”, chứ không nhớ cách cấu tứ. Trong khi đó, “Tiếng chày Yên Thái” có một cấu tứ rất ấn tượng. Sau hai đoạn thơ viết về tiếng chày đã từng nổi tiếng trong ca dao nhưng theo những hình ảnh và cảm nhận riêng của anh, từ hương hoa lài Bà Chúa Liễu Hạnh, thuyền câu, du thuyền, và tiếng ngâm thơ cùng kẻ sĩ Hà Thành, giấy bản và chợ Bưởi trong sương, đến người đẹp bán chiếu gon của Nguyễn Trãi: “Vọng nghe tiếng chày Yên Thái...”, “Đêm nghe vọng tiếng chày nghìn năm trước...”, bỗng thật bất ngờ, nhà thơ viết:

 

Nhịp chày như nhịp tim mình thảng thốt

Người ơi!... //

Nhịp chày khua

Yêu lắm

Nhịp tim mình

                               (29-01-1999, TGHT.)

 

Hoá ra, tất cả những gì trong bài thơ đều vọng lên từ nhịp trái tim của nhà thơ. Nói giản dị hơn, chính nhịp tim anh trong sâu lắng của đêm khuya đã gợi về bao nhiêu là huyền thoại của thời gian lịch sử - văn hoá của một vùng đất.

 

“Riêng anh” là một bài có kết cấu không lạ, nhưng những dòng kết nếu đọc phớt qua, sẽ thấy hẫng, đến khi nhìn kĩ lại vào trang giấy, ta mới thật bàng hoàng. Khởi đầu, là dòng sông, phố phường, cái ngõ nhà nho nhỏ, mái chùamột tình yêu đương. Thái Thăng Long như kiểm lại gia sản trong kí ức của mình về quê và nhà, anh thấy chỉ có vậy. Nhưng rồi, anh thấy còn có cả bầu trời, cánh chim, góc núi Nùng, gốc sấu vỉa hè, giấc mơ trẻ thơ với trò chơi đổ dế. Và tình yêu đương của anh phải cụ thể hơn kia, ấy là anh còn có gương mặt người yêu dấu với đôi mắt, nụ cười ẩn sau toà nhà cổ, ẩn sau tiếng mưa đầu phố, ẩn sau những bông hoa hoang vắng. Anh còn có cánh đồng ngoại ô, gió sông Hồng, sắc hoa vào chợ và những mảnh đất huyền thoại thiêng liêng với những nhà thơ cổ điển (anh thường gọi là vĩ nhân của anh). Còn mái chùa gắn bó với tuổi thơ anh ư? Nó không được cụ thể hoá, chi tiết hoá mà lại trừu tượng đi, với cụm từ Nơi Tâm linh viết hoa: “Nơi Tâm linh ta sáng chói một tình yêu”. Và, điểm lạ là đây:

 

Anh chỉ có một dòng sông thôi để nhớ

Anh chỉ có một phố phường thôi để nhớ

Chỉ có Em ngôi nhà nhỏ tình yêu!

                               (bài Riêng anh, 11-1993, CPTH., sđd., tr. 17)

 

Từ Em đã được viết hoa! Tôi nghĩ là trong hình tượng anh gọi là Em ấy, có tất cả, cơ chừng cả mái chùa ấu thơ lẫn mênh mông nội ngoại thành Hà Nội.

 

Và cũng thảng thốt như anh, khi tôi đọc bài “Điều không còn” (10-2007, ĐHTK., sđd., tr. 52). Đây cũng là một bài thơ thuộc loại “Tiếng chày Yên Thái” trên kia. Sau một loạt điệp ngữ “điều không còn” với những hình ảnh Hà Nội cổ xưa đã mất đi trong tiến trình hiện đại hoá gần đây, có hai câu kết thắt lại đến sững sờ, cho dù hai câu ấy thật giản dị đến mức khó giản dị hơn:

 

Làng hoa đâu

Vườn cũ đâu rồi?

 

Tâm hồn Thái Thăng Long thiên về hoài niệm, cơ hồ có cả hoài cổ. Đó là tâm hồn của một người muốn lưu giữ mãi những gì thuộc về dĩ vãng xa xưa cũng như dĩ vãng gần gũi của dân tộc, đất nước, lưu giữ mãi kỉ niệm ấu thơ cũng như tuổi thanh niên của riêng anh với Hà Nội, dưới ánh sáng lung linh, bay bổng, dịu ngọt của huyền thoại. Anh có một tập thơ được anh đặt tên là “Thời gian huyền thoại” là vì thế. Trong thơ mình, cả bốn tập, anh dành cho hoài niệm một tỉ lệ đáng kinh ngạc, kinh ngạc vì Thái Thăng Long đang sống và làm thơ tại một thành phố hiện đại nhất đất nước. Phải chăng đây là điểm rất đáng quý và cũng là một phần nào đó thuộc căn nguyên của tâm hồn “lạc đàn” ở anh (2), trong thời hậu chiến? Người Hà Nội xa xứ yêu thơ anh vì đồng cảm, những khi tâm hồn họ chùng xuống vì nhớ quê. Người Sài Gòn thông cảm với anh, những khi anh phát hiện ra cả mùa thu Hà Nội ở vùng đất Phương Nam quanh năm hoa trái sum suê, chín mẩy này:

 

Một chút rét

Một chút mưa bụi rắc

Thế là mùa thu về đến cửa nhà

Sương sớm ngoại ô ướt trên cành lá

Hồn mơ, núp bóng những loài hoa

Một chút rét

Mây trời dường se lại

Ngập ngừng ai đôi mắt ngập ngừng

Mùa thu mảnh

Đêm rằm oà vỡ

Thu đến cho người

Thu ẩn vào trong

                               (bài Sài Gòn mùa thu, 9-2008, CPTH., sđd., tr. 236)

 

Nhưng lấy tay che đi nhan đề bài thơ, chắc chắn ai cũng nghĩ đó chỉ là Hà Nội.

 

Tâm linh

 

Có một lần tôi ngẫm nghĩ, tuổi tác dân tộc có đến bốn nghìn năm, và Phật giáo đến với đất nước mình từ thuở sương mờ huyền thoại chưa tan, mắt tổ tiên ta chưa nhìn lịch sử và tự nhiên dưới ánh sáng duy lí. Tiên Dung và Chử Đồng Tử cũng như Bà Chúa Liễu Hạnh rất thơ và rất đời thường, nhưng đã có gì rất Phật. Truyền thống tâm linh ấy, cho dù dưới ánh sáng khoa học hiện đại, có lúc chiếu rọi lạnh lùng đến mức thô bạo, nhưng rồi vẫn thừa nhận là di sản cần thiết phải cách tân và phát triển trong cuộc sống hôm nay. Đọc thơ Thái Thăng Long, tôi nhận ra hai mươi mốt năm chiến tranh dài dằng dặc thế kia, nhưng ngắn ngủi biết bao so với bốn nghìn năm. Đọc thơ anh, riêng mảng tâm linh này, tôi nhận ra bao ngôi chùa, bao mái đình cổ kính chưa bao giờ tắt tiếng chuông ngân và lạnh lẽo hương khói, ít ra cũng chưa lạnh tắt trong hồn người.

 

Từ khi lễ hội được phục hồi, thơ Thái Thăng Long đã tìm về chùa Hương:

 

Nào trẩy hội, ta với em ngược dòng Hương Tích

Khói hương bay, kinh niệm Phật dọc đường

Lần tràng hạt, ngược dốc cao trăm bậc

Sương nhoà bay mộng ảo cõi Hư Không

                               (bài Mời mọc chùa Hương, 01-1992, AA., sđd., tr. 64)

 

Trên kia, tôi đã bày tỏ cảm giác là lạ khi đọc bài “Riêng anh”. Đến khi đọc “Trước Tây Hồ” (02-1994, CPTH., sđd., tr. 27), mới thật vỡ lẽ về từ Em trong thơ Thái Thăng Long:

 

Một mình ta trước Tây Hồ chiều vắng / Chùa chiền và tâm linh mình tĩnh lặng / Khói hương lơ mơ Vũ trụ quá xa vời / Một thoáng mây trôi / Một thoáng em bên anh rối bời thành ảo ảnh // Em là sóng phiêu du / Là gió hoang chóng mặt / Anh bình tâm kính cẩn trước Thánh hiền // Em là buổi chiều vàng vọt trốn vào đêm? / Giấu tất cả những sắc xanh thảm cỏ / Tây Hồ chiều nay / Mãi mãi anh còn đó / Mãi mãi tiếng hạc kêu / Cùng khao khát đến bao giờ?

 

Thì ra, Em chỉ là một biểu tượng của Hà Nội (3), hay có khi, ở bài khác, Em chỉ là hình tượng trữ tình trong cảm xúc, biến thiên theo 99 tâm cảnh, vô vàn tâm cảnh. Dĩ nhiên, cô gái tên Hạnh (?) hay những người yêu có thực của Thái Thăng Long vẫn là có thực. Và cũng có thể từ một Hạnh ấy, với đôi mắt mở to ngây thơ nhìn Hà Nội lên đèn, trên chuyến tàu điện năm nào, mà thăng hoa thành vô cùng như thế. Nhưng quan trọng gì đâu điều này. Đọc “Trước Tây Hồ”, ta thấy tất cả đều hư vô hoá, kể cả hình bóng Hạnh, hình bóng Hà Nội, khi tâm linh Thái Thăng Long “bình tâm kính cẩn trước Thánh hiền”. Và tiếng hạc kêu trong khung cảnh khói sóng, khói hương mơ hồ như tiếng kêu của khát vọng. Khát vọng bay lên, bay xa trên bầu trời thuở nào chỉ là cánh cò, nay đã thật sự xuất hiện với dáng dung là cánh hạc trắng trong thơ Thái Thăng Long. Tôi đã tẩn mẩn ngồi đếm, có khoảng 18 bài thơ của anh có bóng dáng cánh cò trắng và chim hạc trắng (4). Chim hạc trắng bay về bồng lai hay niết bàn:

 

Ước vọng chúng sinh / Một cõi niết bàn / Phật và hoa sen hồng thanh khiết // Hào quang bay lên / Bảy sắc cầu vồng / Niết bàn thăm thẳm / Xa xăm... / Xa xăm trong tâm hồn chúng sinh vẫn đợi // Vời vợi lòng người / Vơi đi đau khổ / Vơi đi cái ác thường nhật hàng ngày // Niết bàn / Chín tầng mây hồng chim hạc / Hoa sen ngát những mùa trăng (bài Niết bàn, 4-2007, ĐHTK., sđd., tr. 125)

 

Mặc dù vậy, trong một bài thơ khác (08-2008, ĐHTK., tr. 80), anh lại viết, “ngoài vũ trụ”, nếu hiện hữu chăng bao hương linh, thì vẫn chưa siêu thoát, bởi cõi ngoài vũ trụ ấy vẫn là “một cõi yêu đang khát”. Chính “điều trống không là cõi vĩnh hằng”. Niết bàn, bồng lai cũng chỉ trong tâm thức ta, trên cõi trần gian này.

 

Tuy vậy, mặt khác, có lẽ tích cực hơn và hiện đại hơn Phật giáo cổ truyền một thời chìm vào non cao rừng vắng, nhường bước lại cho Nho giáo, khi Thái Thăng Long hội nhập cùng tinh thần Phật giáo Miền Nam trong những năm chiến tranh. Anh mong muốn một Phật giáo nhập thế. Từ ước muốn ấy, trong tâm thức anh sống lại hình ảnh Lý Thái Tổ, qua bài “Bóng Thiền sư” (2-2008, ĐHTK., sđd., tr. 219-220), người đã tôn tạo, gần như tạo lập mới một kinh đô Thăng Long với “Chiếu dời đô” còn lưu trong sử sách. Với tinh thần nhập thế ấy (chứ không phải thuần tuý siêu thoát như hạc trắng), anh còn viết:

 

Lại gần với đời hơn / Lại gần với người hơn / Lại gần với dòng sông cây cỏ / Lại gần với phố phường bé nhỏ / Lại gần với xóm làng bao cảnh tối tăm // Phật thì ở trong lòng / tâm thế vô biên như trời cao rộng / Bàn tay xoè, hoa sen cùng ước vọng / Bớt kiếp trầm luân / Biển khổ giữa đời // Lại gần với đời hơn / Để mãn nguyện nụ cười / Cháy bỏng hoa sen chiều chuyển gió / Vơi đi những dối lừa đâu đó / Nam mô ... cửa Phật lại khoan thai (3-2008, ĐHTK., sđd., tr. 115).

 

Tôi còn rất yêu hai bài thơ khác của Thái Thăng Long viết về đề tài tâm linh này: “Không còn” (1998-1999, TGHT., sđd., tr. 164-165) và “Có nhiều con chim không hót” (9-2008, ĐHTK., sđd., tr. 242-243). Đây cũng là hai bài hiếm quý, thuộc loại vận dụng nhuần nhị cách cấu tứ tuy không mới mẻ nhưng hiệu quả thẩm mĩ cao. Sau khi triển khai các ý với điệp ngữ: “Không còn cái nhìn... // Không còn giấc mơ... // Không còn em / Không còn đêm thao thức...”, anh kết lại ở bài thứ nhất:

 

Chiều bạt ngàn những gió

Nghe một tiếng chuông chùa để nhớ

Nghe một tiếng chuông chùa

Thức giấc

Cả trăm năm

 

Ở bài thứ hai, sau bốn điệp cú “có nhiều con chim không hót” cùng với hình ảnh “cháy rừng”, “lồng son”, “xa bầy”, “mất mẹ”, bài thơ kết lại, sáng lên ánh sáng phóng sinh (buông tha cho sự sống):

 

Bầy chim non

Thèm một giọt sương

Thèm tự do giữa bầu trời cao rộng

Thèm một khoảng rừng xanh không cô độc

Bên cửa chùa sáng nay

Ta thấy chúng vụt bay...

 

Nếu thay ngữ “cửa chùa” bằng “cửa sổ” thì bài thơ vô nghĩa!

 

Tôi vẫn nghĩ thơ Thái Thăng Long phần lớn không cấu tứ như vậy. Phần lớn thơ anh như tiếng gõ vào chuông chùa, tiếng chuông cứ thế ngân vang, lan toả, ngân vang, lan toả mãi cho đến khi cùng hồn người đọc hoà tan vào hư không. Một ví von khác, ý thơ anh như hòn cuội ném xuống mặt ao mênh mông phẳng lặng, câu chữ tạo nên những vòng sóng gợn, lan ra, lan ra, cho đến khi không còn gợn sóng vòng tròn nào. Thơ anh mở ra, lan toả, mênh mang, với nhạc tính phong phú và ngôn từ đẹp, chứ không thắt lại, khấc vào trí nhớ người đọc như một vết thương hay một viên ngọc nạm.

 

Cõi tâm linh của Thái Thăng Long không chỉ là cõi Phật, cõi Tiên, mà còn là nơi thờ kính những vĩ nhân. Vĩ nhân trong thơ anh là Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, những thi sĩ...

 

Ngày trăng tròn

Các vĩ nhân

Cùng thi ca

Rọi hồn non nước

                               (bài Bóng Thiền sư, 02-2008, ĐHTK., sđd., tr. 220)

 

Thơ Thái Thăng Long còn có những mảng đề tài khác, nhưng nổi trội lên trong bốn tập thơ của anh vẫn là thao thức về con đường - ánh sáng và hoài niệm tình yêu đương - quê nhà - tâm linh.

 

Thơ anh cho ta nhận ra một con người sống thiên về nội tâm, sống nhiều với quá khứ, một quá khứ đã được tinh lọc bởi một hệ quy chiếu tâm linh. Vì thế, phần lớn thơ anh có sự hoà lẫn tình yêu đương, quê nhà và nẻo Phật.

 

Thơ Thái Thăng Long vẫn là thơ của một người ý thức rất rõ trách nhiệm thi sĩ – công dân của mình. Chính khi chiêm ngưỡng pho tượng cổ, anh cũng nhìn ra vẻ đẹp thẳm sâu của tâm thức tiền nhân gắn liền với thời đại thuở bấy giờ, một tâm thức ưu thời mẫn thế: “Ta yêu những ánh mắt mang hồn thời cuộc / Vẻ đẹp nghìn xưa ngự trị trong đời”.

 

Đây là hai mảng thơ tưởng chừng như đối cực nhưng thực chất lại nhất thống, chan hoà, quyện lẫn, không loại trừ nhau trong tâm hồn thơ Thái Thăng Long. Anh không phải là nhà thơ trốn đời nên tìm đến cõi tâm linh siêu thoát, chán chường với thực tại nên sống với hoài niệm. Anh chỉ cần những phút giây siêu thoát để nạp năng lượng cho những bước chân “đồng hành cùng thế kỉ”. Anh cần nuôi cành nhánh tâm hồn trong “vốn cổ” để sâu rễ bền gốc, với ước mong rằng trái tim anh sẽ chín. Biện chứng tâm hồn của một nhà thơ thật không đơn giản mà rất phong phú.

 

Cuối bài viết này, tôi không khỏi tự hỏi, liệu tôi có nhầm lẫn nào không khi cảm nhận thơ của nhà thơ Thái Thăng Long? Biết làm thế nào được, bởi đọc thơ là gõ vào cánh cửa khi nào cũng mở và bao giờ cũng đóng chặt. Xin đón chờ những tiếng nói phản hồi...

 

Trần Xuân An

Viết phần 2 từ 06:56 đến 16:16, ngày 08-10 HB9 (2009)

_______________________

 

(1) “Ám ảnh” (viết tắt: AA., Nxb. Hội Nhà văn, 1992), “Chiều Phủ Tây Hồ” (CPTH., Nxb. Trẻ, 1994), “Thời gian huyền thoại” (TGHT., Nxb. Thanh Niên, 2000), “Đồng hành thế kỷ” (ĐHTK., Nxb. Thanh Niên, 2009).

 

(2) Hoài Hương phỏng vấn nhà thơ Thái Thăng Long: Thăng Long – Hà Nội, tình yêu và nỗi nhớ, Điểm mạng toàn cầu Nhà văn Trần Thanh Giao (tranthanhgiao.com - Google search).

 

(3) Có người cho rằng từ lâu anh không thể làm thơ tụng ca có tính cổ động, nhất thời.

 

(4) CPTH.: tr. 12, 27, 41, 60, 62, 101, 121, 121, 129, 139; TGHT.: tr. 55, 92, 102, 124, 195, 219, 229; ĐHTK.: tr. 13, 40, 111...

 

 
 
21:00 tối 08-10 HB9 (2009): Phần 2 đã được gửi đến nhà thơ Thái Thăng Long.

22:00 tối ngày 08-10 HB9 (2009): 

Phần 2 bài viết đã được gửi đến các báo, tạp chí (điện tử, in giấy) và các điểm mạng toàn cầu: Tr.Ttđt. Hội Nhà văn Việt Nam, Tạp chí Nhà văn, Tạp chí Sông Hương, Tr.Ttđt. Sông Cửu Long, TranNhuong Com, PhongDiep Net, Trúc Sơn Trang (XuanDuc Vn)…

 
Bài viết đã được đăng trọn vẹn (phần 1 & phần 2) trên TranNhuong Com , PhongDiep Net (07, 08 & 09-10 HB9)
& Trúc Sơn Trang (10 & 11-10 HB9)
 
 

_____________________________________ 

 

>>>>>  Trang chủ‎  >>>>>

>>>>>  ‎I. Danh mục tác phẩm Trần Xuân An‎  >>>>>

>>>>>  ‎Z.(25). Trần Xuân An - Tập tiểu luận 4 & các bài khác (mới viết)‎  >>>>> 

 

 

Google Sites / host 

hidden hit counter

 
GOOGLE PAGE CREATOR, DOTSTER, MSN. & YAHOO ...  /  HOST, SEARCH & CACHE
 
 
 
 
Comments