Danh mục tác phẩm Trần Xuân An:

n. Bài 14-Tl.4 - Trần Xuân An -- Tập truyện mới của Võ Nguyên như ngọn gió lành?

 
► Cập nhật (05-10 HB9): Bài mới nhất: Trần Xuân An -- TẬP TRUYỆN MỚI CỦA VÕ NGUYÊN NHƯ NGỌN GIÓ LÀNH? --- Viết từ  13:58, ngày 12-10 HB9 (2009) đến 18:02, cùng ngày
 

Trong tập truyện “Khát mùa chim di trú”, còn có những truyện được Võ Nguyên mở rộng ra xã hội. “Nước mắt ngàn xanh” tố cáo nạn bán rừng của chính quyền địa phương cấp tỉnh và cũng là nạn phá rừng của bọn khai thác gỗ phi pháp. Chúng bất chấp đó là rừng phòng hộ đầu nguồn, nên dẫn đến hậu quả, không những khí hậu ngày càng nóng bức, lũ lụt hàng năm còn tàn phá ruộng đồng, phố thị đến mức khủng khiếp. Và chính một anh cán bộ chân chính, vốn bị bọn cán bộ hư hỏng trù dập, sa thải, đã tự mình đi thu thập tài liệu, chứng cứ để trực tiếp phản ánh lên cấp trung ương. Con người trung thực đơn độc ấy đã chiến thắng. Cũng cùng đề tài về sự thoái hoá, biến chất của cán bộ, công chức trong guồng máy nhà nước, còn có truyện ngắn “Ông nội”. Ở Nam Bộ và các tỉnh Nam Trung phần ngày xưa, trong thời khẩn hoang, vốn có tập tục thể hiện sự hào hiệp, hoàn cảnh đơn côi, xa cách họ hàng bản quán, nên “bà con xa láng giềng gần”, “chén rượu thề kết nghĩa nghìn đời”. Cán bộ tập kết trước đây khi ra Bắc cũng còn duy trì, phát huy tập quán tốt đẹp này. Ngày nay, đối với kẻ xấu, kết nghĩa cha con (nghĩa phụ, nghĩa tử) chỉ là một trò dựa hơi chức quyền, nhằm kiếm chác quyền lợi, đầu cơ chức vụ hay tạo bè cánh tiêu thụ “quà biếu”. Một nhân vật trong truyện ngắn còn bỉ ổi đến mức có rất nhiều “cha nuôi” và ghẻ lạnh với cha ruột của mình, vốn chỉ là một nông dân. Võ Nguyên tỏ ra có nhiều vốn sống về lĩnh vực “cán bộ, công chức”, khi sử dụng nhiều chi tiết vừa chua cay vừa hài hước để lên án, đặc biệt là thông qua những đứa trẻ, trong đó có đứa có nhiều “ông nội”, vì nó là con trai của nhân vật có quá nhiều “nghĩa phụ”, bỉ ổi và bất hiếu kia.

 

Một truyện ngắn khác, “Mùa hoa bươm bướm”. Ngòi bút của Võ Nguyên lại viết về hồi ức của một người đàn bà Việt kiều, di tản bất đắc dĩ trong cuộc “chạy loạn” hồi 1975. Anh lần dở bao trang hồi kí không bao giờ viết, vì chúng chỉ nằm im đâu đó trong trí nhớ, thỉnh thoảng trở thành những tấm gương vỡ sắc cạnh cứa vào tâm hồn của nhân vật. Khi nhân vật trở về thăm quê, gặp lại bạn bè cũ, nay đều đã hai thứ tóc trên đầu, các tấm gương vỡ kí ức ấy lại có lúc trở thành những cánh quạt làm dịu đi từng vết cứa ròng ròng máu bởi cạnh sắc trong kí ức. Trong truyện ngắn này, ta lại bắt gặp một Võ Nguyên hơi quá quắt về “lập trường” như nhiều nhà văn hồi trước “Đổi mới”. Có lẽ, Võ Nguyên nghĩ như thế là “quân bình” khi anh đã có vài truyện trong tập thuộc loại phê phán nội bộ cán bộ, công nhân viên chức hơi nặng tay. … Xem tiếp …

 
 
 
Đã viết xong

Trân trọng mời đọc ở các trang thông tin, báo chí in giấy và điện tử...

 

13-10 HB9: Bài viết đã được đăng trên 2 điểm mạng toàn cầu do nhà thơ Trần Nhương, nhà văn Phong Điệp phụ trách:

http://trannhuong.com/news_detail/2793/TẬP-TRUYỆN-MỚI-CỦA-VÕ-NGUYÊN-NHƯ-NGỌN-GIÓ-LÀNH?

http://www.phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=8661

Thành thật cảm ơn nhà thơ Trần Nhương & nhà văn Phong Điệp

 

 

 

_________________________________________ 

 

 
 
TẬP TRUYỆN MỚI CỦA VÕ NGUYÊN NHƯ NGỌN GIÓ LÀNH?

 

Trần Xuân An

 

Khi cầm tập truyện ngắn mới nhất của Võ Nguyên, tôi nghĩ, phải chăng đây là ngọn gió lành trong khí hậu văn nghệ đang ở thời đoạn nóng bỏng đến mức phát sốt vì đủ thứ huỷ hoại tâm hồn và nhân cách con người? Nhưng thú thật, khi câu hỏi ấy chợt nảy sinh trong tôi, có nghĩa là tôi cũng không hoàn toàn tin tưởng vào hi vọng ấy, bởi cách đây vài năm, sau khi xuất bản ba đầu sách, Võ Nguyên bỗng dưng viết truyện ngắn “Thương”, và gửi đăng như một cách góp mặt, giao lưu văn nghệ trên điểm mạng toàn cầu của tôi, khiến tôi hơi sững sờ... Từ đó, tôi nghĩ nhà giáo họ Võ này có lẽ sắp rời ngành giáo dục để ném bút danh Võ Nguyên của anh vào khí hậu văn nghệ đang nóng bỏng, sôi sục các thứ “tùm lum” rồi đây!

 

Thật ra, nói thế là hơi cường điệu, quan trọng hoá đến mức hơi quá đáng về cái truyện “Thương” ấy. Đó là một truyện khá hay, nhưng giá như bớt đi một hai chi tiết hoặc thêm dăm ba câu để cân bằng, hài hoà chất thiện với chất chân và chất mĩ đã vốn có trong truyện, hẳn “Thương” không còn bị chê vào đâu được.

 

Trước khi đọc “Khát mùa chim di trú”, tập truyện mới của Võ Nguyên (1), tôi xem trước mục lục và hơi bâng khuâng, vừa tiếc vừa mừng, vì không thấy truyện ngắn nào có tên là “Thương” cả.

 

Mở đầu tập là “Chuối hoa”, tên của một loại cá và cũng là tên truyện. Đó chỉ là một truyện loài vật ngắn ngọn, có tính ngụ ngôn về lòng mẹ. Mặc dù đã đọc một truyện loài vật rất nổi tiếng, kể về một con chim mẹ đã tự mổ vào ngực mình để đàn chim con đang nằm trong tổ có thức ăn giữa những ngày bão lạnh, nhiều người vẫn rất cảm động khi đọc “Chuối hoa”. Theo tôi, “Chuối hoa” với chuỗi thảm kịch -- cá mẹ tự làm mồi nhử để bẫy kiến làm thức ăn cho đàn cá con, cá mẹ lại bị mèo chộp được, toan xé xác để ăn, rồi đến lượt mèo bị chó vồ, tranh mồi, ngẫu nhiên tạo dịp may cho cá mẹ thoát nạn --, còn là một trong vô vàn truyện đã phơi bày được quy luật tàn bạo, ăn tươi nuốt sống lẫn nhau, của thế giới sinh vật.

 

Có lẽ Võ Nguyên đặt truyện “Dáng mẹ” kế tiếp sau “Chuối hoa” là vì thế. Qua truyện ngắn thứ hai này, Võ Nguyên cho ta cảm nhận được bi kịch ngấm ngấm mà kéo dài, và không bùng nổ, vì đó chỉ là một bi kịch tất yếu phải chịu đựng, như loài người cùng muôn loài vẫn chịu đựng hằng triệu năm nay: Người chồng cùng nhóm bạn thích thú, đam mê bắn chim, nhậu thịt chim, mâu thuẫn với tấm lòng thương xót sự sống của vợ -- một cô giáo. Cùng người mẹ của cô, cô giáo lấy việc thả chim theo lệ phóng sinh như một cách tự xoa dịu lương tâm, đồng thời nhắc ngầm người khác từ tâm một chút trong quy luật tất yếu nghiệt ngã của tự nhiên. Tất cả đều được kể lại thông qua cảm nhận của một cô bé, con của cô giáo.

 

“Tiết canh gà” chỉ là một truyện ngắn vui vui, thể hiện một cách sinh động về óc phát minh táo bạo của một nông dân, nhưng “phát minh” ăn tiết canh gà của ông không đặt trên cơ sở thực nghiệm khoa học, nên không ai khác, chính ông đã phải suýt chết.

 

Trong bối cảnh nền giáo dục nước ta chứa đựng nhiều bi kịch và lắm chuyện xót xa, đến nỗi phải phơi bày trên báo chí các tội phạm là những học trò không ra gì, những nhà giáo quá tệ hại với danh tính rõ ràng, Võ Nguyên cho vào tập đến ba truyện về ngành giáo. “Tượng buồn”, tuy viết về võ thuật, nhưng lại là võ thuật trong không khí võ hiệp ngày xưa, nên đây cũng là một truyện về ngành giáo dục. Ông võ sư của Võ Nguyên không đào tạo nên tiến sĩ, cử nhân võ nào. Môn sinh của ông rất ít người, một người thành nhà sư trụ trì chùa và một người khác trở nên tướng cướp. Tên tướng cướp muốn ép thầy phải truyền nốt ngón võ bí truyền bằng hành vi thảo khấu, nên bị thầy trừng trị, biến y thành kẻ tật nguyền. Y đành phải tu hành (như sư huynh, nhưng khác về nguyên do), và may thay, y còn biết hối hận, ngày đêm tạc tượng, hình như là tượng về người thầy. Cuối cùng hai thầy trò đều được dân lập miếu thờ. “Trở về” là một truyện khác về ngành giáo dục. Có điều, tuy bối cảnh và nhân vật là ngành giáo, nhưng vấn đề đặt ra lại chung cho mọi ngành. Phải chăng Võ Nguyên muốn nói, dạy học ở nhà trường là giáo dục và đào tạo nhân lực cho mọi ngành, mọi nghề trong xã hội, nên khoa học đồng thời là nghệ thuật dùng người trong ngành giáo mà chẳng ra gì, thì còn nói chi đến xã hội? Hệ quả là xã hội vẫn còn lắm bất công và khó phát triển thành công. Hậu quả nhãn tiền là vị giám đốc sở vốn chỉ thích bố trí, cất nhắc người thân tình mà bạc đãi người tài, có tâm, rốt cuộc lúc về hưu, những “người thân tình” cũ chẳng đoái hoài đến, cũng chẳng ai quý trọng ông mặc dù ông rất mực liêm khiết, thanh sạch. Cũng về đề tài ngành giáo dục, Võ Nguyên còn có truyện “Cũng là anh”. Cũng là anh chồng chê ngành giáo, khuyên vợ nên bỏ nghề, chuyển sang ngành khác, nhất là khi vấn đề thi hành kỉ luật học sinh còn bị quy oan vào cô giáo bởi học sinh là “cậu ấm, con quan”. Cũng là anh chồng lại cảm ơn ngành giáo khi vợ bị tai nạn giao thông ở chân, học trò cũ đến giúp cô giáo nay ngồi một chỗ về vi tính, và cô nhanh chóng trở thành một chuyên viên lập trình xuất sắc; cô giáo trở về với ngành giáo ngay trong ngôi nhà của mình, khi cô mở lớp dạy vi tính tại gia.   

 

Trong tập truyện “Khát mùa chim di trú”, còn có những truyện được Võ Nguyên mở rộng ra xã hội. “Nước mắt ngàn xanh” tố cáo nạn bán rừng của chính quyền địa phương cấp tỉnh và cũng là nạn phá rừng của bọn khai thác gỗ phi pháp. Chúng bất chấp đó là rừng phòng hộ đầu nguồn, nên dẫn đến hậu quả, không những khí hậu ngày càng nóng bức, lũ lụt hàng năm còn tàn phá ruộng đồng, phố thị đến mức khủng khiếp. Và chính một anh cán bộ chân chính, vốn bị bọn cán bộ hư hỏng trù dập, sa thải, đã tự mình đi thu thập tài liệu, chứng cứ để trực tiếp phản ánh lên cấp trung ương. Con người trung thực đơn độc ấy đã chiến thắng. Cũng cùng đề tài về sự thoái hoá, biến chất của cán bộ, công chức trong guồng máy nhà nước, còn có truyện ngắn “Ông nội”. Ở Nam Bộ và các tỉnh Nam Trung phần ngày xưa, trong thời khẩn hoang, vốn có tập tục thể hiện sự hào hiệp, hoàn cảnh đơn côi, xa cách họ hàng bản quán, nên “bà con xa láng giềng gần”, “chén rượu thề kết nghĩa nghìn đời”. Cán bộ tập kết trước đây khi ra Bắc cũng còn duy trì, phát huy tập quán tốt đẹp này. Ngày nay, đối với kẻ xấu, kết nghĩa cha con (nghĩa phụ, nghĩa tử) chỉ là một trò dựa hơi chức quyền, nhằm kiếm chác quyền lợi, đầu cơ chức vụ hay tạo bè cánh tiêu thụ “quà biếu”. Một nhân vật trong truyện ngắn còn bỉ ổi đến mức có rất nhiều “cha nuôi” và ghẻ lạnh với cha ruột của mình, vốn chỉ là một nông dân. Võ Nguyên tỏ ra có nhiều vốn sống về lĩnh vực “cán bộ, công chức”, khi sử dụng nhiều chi tiết vừa chua cay vừa hài hước để lên án, đặc biệt là thông qua những đứa trẻ, trong đó có đứa có nhiều “ông nội”, vì nó là con trai của nhân vật có quá nhiều “nghĩa phụ”, bỉ ổi và bất hiếu kia.

 

Một truyện ngắn khác, “Mùa hoa bươm bướm”. Ngòi bút của Võ Nguyên lại viết về hồi ức của một người đàn bà Việt kiều, di tản bất đắc dĩ trong cuộc “chạy loạn” hồi 1975. Anh lần dở bao trang hồi kí không bao giờ viết, vì chúng chỉ nằm im đâu đó trong trí nhớ, thỉnh thoảng trở thành những tấm gương vỡ sắc cạnh cứa vào tâm hồn của nhân vật. Khi nhân vật trở về thăm quê, gặp lại bạn bè cũ, nay đều đã hai thứ tóc trên đầu, các tấm gương vỡ kí ức ấy lại có lúc trở thành những cánh quạt làm dịu đi từng vết cứa ròng ròng máu bởi cạnh sắc trong kí ức. Trong truyện ngắn này, ta lại bắt gặp một Võ Nguyên hơi quá quắt về “lập trường” như nhiều nhà văn hồi trước “Đổi mới”. Có lẽ, Võ Nguyên nghĩ như thế là “quân bình” khi anh đã có vài truyện trong tập thuộc loại phê phán nội bộ cán bộ, công nhân viên chức hơi nặng tay.

 

Trong bốn truyện ngắn còn lại, tạm gạt qua “Dây tầm gởi”“Khát mùa chim di trú”, có thể chia ra hai loại. Một loại, truyện có bối cảnh xưa, nhiều chi tiết có chất cổ tích, “đường rừng” như người đội lốt hổ (cọp), giải mã sự tích một ngôi miếu (“Miếu Nàng”), hoặc nhiều chi tiết sử dụng cổ tích, tuồng cổ Trương Chi – Mỵ Nương vừa như ẩn dụ để phản ánh hoàn cảnh nhân vật, vừa như đề cao chức năng của nghệ thuật là giải thoát thực tại sang – hèn, giàu – nghèo và khả năng tạo lập sự cảm thông giữa người với người trong thực tại cách bức ấy (“Người mang nửa trái tim Trương Chi”). Một loại khác, truyện hướng hẳn về xã hội hiện tại, thời sau “Đổi mới”: tiến trình đô thị hoá đã tác động đến vùng ven và nông thôn, tạo nên những bi kịch gia đình, xô đẩy số phận những cô gái trẻ khốn khó phải trôi giạt ra thị trấn, thành phố trước bao cạm bẫy, có người cố giữ chất sen trong bùn nhục dục, có người cũng phải “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”... 

 

Sở dĩ tôi không đề cập nhiều đến “Dây tầm gởi” bởi hình ảnh này có lẽ là một ẩn dụ không thành công của Võ Nguyên. Ai là dây tầm gởi (loài cây cỏ kí sinh, sống bám vào thân cây khác, có nguy cơ khiến thân cây bị bám vào khô héo, chết đứng), trong truyện ngắn này? Nếu là đứa cháu mồ côi ở với bà cô, thì so sánh ngầm ấy tàn nhẫn quá, mặc dù con cháu nào chẳng tầm gởi khi còn thơ bé, chưa thành đạt trong học hành, nghề nghiệp! Nếu dây tầm gởi là đứa con đang ở tuổi ẵm bồng của cô cháu gái, nay đã là tiến sĩ, đã lập gia đình, thì ẩn dụ ấy càng tàn nhẫn hơn, thậm chí là phi lí... Trong thực tế, cháu ngoan, hiếu nghĩa là niềm vui, tăng thêm sức khoẻ của cô, con ngoan, hiếu nghĩa là hạnh phúc, ý nghĩa cuộc sống của mẹ.

 

Một “truyện ngắn” khác, tôi cũng không đề cập nhiều. Tên riêng của “truyện” cũng là tên chung của cả tập, “Khát mùa chim di trú”. Thực chất đây là một tuỳ bút được viết như thể thơ văn xuôi (hoặc có người từng gọi đấy cũng là “tân truyện”). Trong “truyện” không có cốt truyện và nhân vật không được Võ Nguyên khắc hoạ tính cách này, có một số ẩn dụ cơ hồ để thể hiện vấn đề tình dục (?) chân chính một cách nên thơ và kín đáo. Tôi nghĩ, có lẽ đây là một phụ lục “thơ văn xuôi” của tập truyện hoặc là một thử nghiệm “tân truyện” (xuất hiện từ lâu ở Phương Tây và trong những năm 60-70/XX ở Miền Nam) theo cách của Võ Nguyên. Dẫu xuất phát từ ý định nghệ thuật nào của tác giả, không rõ, dăm bảy trang “Khát mùa chim di trú” cũng chỉ là một tùy bút.

 

Đến đây, tôi phải nhắc lại truyện ngắn “Thương” của Võ Nguyên. Thật ra, không như lúc chưa đọc, chỉ vừa xem mục lục, tôi tưởng lầm là “Thương” không được Võ Nguyên đưa vào tập truyện mới nhất này của anh. Truyện ngắn “Thương” đã được Võ Nguyên viết lại, nâng cấp, phát triển thành một truyện vừa, dài đến 27 trang sách, và anh đặt tên khác: “Nẻo về thành phố”. Cuối truyện, anh ghi: “Phan Thiết, tháng 04 năm 2006, tháng 01 năm 2009”. Cùng đề tài với “Nẻo về thành phố”, còn có “Thị trấn” (20 trang sách). Theo tôi nghĩ, đặt trong bối cảnh văn nghệ hiện nay, và nhìn trong cả tập, đây là hai truyện hay nhất của Võ Nguyên, nhất là truyện “Nẻo về thành phố”.

 

“Nẻo về thành phố” có dáng dấp một truyện vừa tiềm ẩn các yếu tố để có thể trở thành một tiểu thuyết. Tôi hi vọng sẽ có dịp đi sâu vào truyện vừa này...

 

Gấp lại đầu sách thứ tư của nhà văn đồng thời là nhà giáo Võ Nguyên, tôi vẫn không dứt được những ngẫm nghĩ…

 

Trong tập, có truyện thật giản dị về kết cấu và độ dài chỉ vài trang, nhưng cũng có truyện bối cảnh được thay đổi và tính cách nhân vật có quá trình phát triển, do đó số lượng trang cũng dài hơn mười lần. Cho dù truyện chỉ chấm phá, lướt nhanh, ngắn gọn hay đa phức, tính cách nhân vật có bề dày, chiều sâu, hình như lúc nào ngôn từ của Võ Nguyên cũng trong sáng. Là nhà giáo ngữ văn, chuyên viên văn học cấp sở, Võ Nguyên gắn bó lâu năm với ngành giáo dục, nên phải chăng vì thế, truyện của anh phần lớn cho người đọc cảm giác chân phương, mực thước. Dạy văn, chỉ đạo bộ môn văn (2), nhưng có điều cũng ngộ nghĩnh là Võ Nguyên tỏ ra yêu thích và am hiểu võ thuật. Những trang cần vận dụng không khí “võ hiệp kì tình”, ngòi bút Võ Nguyên cũng rất sinh động.

 

Và tôi cũng nghĩ, đã đến lúc nên khép lại những trang điểm sách này. Đã gọi là điểm sách, nhất là sách mới xuất xưởng, tôi cũng chỉ dám học tập các chuyên viên ở trung tâm y học dân tộc, tìm những huyệt đạo trên hệ thống kinh lạc của mỗi truyện và cả tập, để day nhẹ, nhằm “đánh thức kinh mạch”, với hi vọng may chăng, tạo thêm cho tập truyện chút nào khởi sắc (cảm thụ đồng sáng tạo), bằng chính sắc khí từ nội lực vốn có của nó. Có một khiếm khuyết rất nghiêm trọng của bài điểm sách này là khất lại... Vâng, thành thật xin lỗi là phải đành xin hẹn dịp khác, sẽ đi sâu vào “Thị trấn”, đặc biệt là truyện cao cường nhất của Võ Nguyên, “Nẻo về thành phố”. Vả lại, đọc trực tiếp và trọn vẹn là cách tiếp cận tác phẩm tốt nhất.

 

Gấp lại tập truyện “Khát mùa chim di trú”, tôi hoàn toàn (hoặc 95%) yên tâm để có thể bỏ dấu hỏi đằng sau dòng chữ “Tập truyện ngắn của Võ Nguyên như ngọn gió lành”.

 

 

Trần Xuân An

Viết từ 13:58, ngày 12-10 HB9 (2009) đến 18:02, cùng ngày

Xem lại, có chỉnh sửa vài câu, lúc 06:33, ngày 13-10 HB9

                                                                                                                            

___________________________

 

(1) Võ Nguyên, “Khát mùa chim di trú”, Nhà Xuất bản Thanh Niên, 10-2009, 172 trang, cỡ 14 x 20 cm.

 

(2) Sở Giáo dục & Đào tạo tỉnh Bình Thuận, tại Phan Thiết.

 

______________
 
 

Tối 12-10 HB9: Bài viết đã được gửi đến nhà văn Võ Nguyên cùng các nhà giáo: Ngô Vưu, Phạm Bá Thịnh (NSNA.), Tôn Thất Dụng (TS.), Nguyễn Chiến, Lê Phước Sinh, Lê Thị Bác Nhã...

Sáng 13-10 HB9: Gửi đăng trên Tạp chí Sông Hương (điện tử & in giấy), Tạp chí Văn Nghệ Bình Thuận (in giấy), Trang Thông tin điện tử (Tr.Ttđt.) Sông Cửu Long, Tr.Ttđt. Trần Nhương , Tr.Ttđt. Phong Điệp

 

_____________________________________ 

 

>>>>>  Trang chủ‎  >>>>>

>>>>>  ‎I. Danh mục tác phẩm Trần Xuân An‎  >>>>>

>>>>>  ‎Z.(25). Trần Xuân An - Tập tiểu luận 4 & các bài khác (mới viết)‎  >>>>> 

 

 

Google Sites / host 

hidden hit counter

 
GOOGLE PAGE CREATOR, DOTSTER, MSN. & YAHOO ...  /  HOST, SEARCH & CACHE
 
 
 

Nhận xét (6)

An Tran Xuan - 17:19 13-10-2009

THƯ CỦA VÕ NGUYÊN (tối 13-10 HB9):

Cảm ơn Trần Xuân An đã có lời cảm nhận về tập truyện. Mình đã đọc xong. Có nhiều chỗ nhận xét rất tinh tế. Nhưng có một số chỗ vượt ra ngòai ý định của người viết.
Rất cảm ơn.
Võ Nguyên (Võ Văn Tám)

An Tran Xuan - 20:14 14-10-2009

21:50, ngày 14-10-’’09

Trần Xuân An (TXA) thân mến,

Đọc bài viết của TXA điểm sách về tập truyện của mình, không ngờ trong thời gian ngắn mà An lại viết nhanh như thế.

Tối qua bận nhiều việc quá nên không trao đổi nhiều với An được. Tối nay có thảnh thơi, viết đôi dòng trao đổi với An. Mình có nói là An nhận xét nhiều chỗ rất tinh tế, nhưng một số chỗ chưa gặp gỡ ý đồ tác giả. Ví dụ truyện "Dây tầm gửi" là truyện kết cấu lồng ghép hai chủ đề: một về bản năng tự nhiên của thiên nhiên, một về con người. Con người không sống bản năng như loài thảo mộc. Nên không thể ẩn dụ dây tầm gửi kia là đứa cháu gái, hay là con của đứa cháu gái được. Nếu như ai đó (ở ngoài truyện) chỉ biết ăn bám một cách bản năng thì chẳng khác gì loài thảo mộc kia. Truyện chỉ có thế thôi. Nên mới xây dựng đứa cháu gái ấy là một CON NGƯỜI. Hãy sống như một CON NGƯỜI như vậy mới đáng sống. Trong truyện còn muốn nhắn gửi thêm một thông điệp: Những điều gây tai hại mới nhen nhóm khởi sự bước đầu tưởng nhỏ nhen mà bỏ qua, không kịp thời ngăn chặn, do sự chây lười hay vô tình không để ý, đến khi nó bộc phát lan truyền thì sẽ không còn phương cứu chữa, dẫn đến chết người đấy thôi.

Truyện "Trở về" mình không ám chỉ ngành giáo dục, mà muốn luận bàn về cách dùng người.

Truyện "Khát mùa chim di trú" mình không có ý định viết tùy bút đâu. Người ta đa số đang kéo thơ về với văn xuôi, mình muốn làm ngược lại, đưa văn xuôi về gần với thơ. Truyện không có cốt truyện, nhưng không hoàn toàn như vậy. Bởi thông qua cuộc hội thoại của anh và em, xuôi theo chuỗi cuộc đời của hai nhân vật, họ đã đắm say yêu, nồng nàn trong ghen tuông hờn giận và họ đã dệt nên thiên tình sử của chính cuộc đời mình, không hề ân hận. Điều đó được người con gái chào đời, lớn lên từ tình yêu ấy với niềm tự hào, kiêu hãnh, tôn thờ. An đọc lại thử xem.

Dĩ nhiên còn nhiều điều muốn trao đổi lại với An. Ngay cả việc An cho rằng trong truyện ngắn “Mùa hoa bươm bướm” "ta lại bắt gặp một Võ Nguyên hơi quá quắt về “lập trường” như nhiều nhà văn hồi trước “Đổi mới”. Có lẽ, Võ Nguyên nghĩ như thế là “quân bình” khi anh đã có vài truyện trong tập thuộc loại phê phán nội bộ cán bộ, công nhân viên chức hơi nặng tay". Mình không hề có ý định ấy. Những phản ánh trong các truyện là muốn nói lên hiện thực cuộc đời, về tính cách, về nhân tình, số phận con người, mà bao trùm lên là tình yêu thương. Chỉ có tình yêu thương mới tồn tại là con người. Bảo vệ thiên nhiên cũng chính là bảo vệ con người. Phá hoại thiên nhiên cũng là tội ác như giết người đấy thôi.

Hẹn có dịp còn tiếp tục trao đổi với TXA, một người đã từng có trên năm tập thơ làm chếnh choáng lòng người, đã từng cho ra đời trên năm cuốn tiểu thuyết, có những cuốn tiểu thuyết - nhất là cuốn truyên ký lịch sử “Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường” dày gần 1000 trang, với cách viết mới lạ, phá vỡ kết cấu truyện kí truyền thống, cũng như một số đầu sách khảo cứu, phê bình ... cả về lịch sử và văn chương, một cây bút còn tràn đầy nhiệt huyết.

Tạm dừng ở đây. Mình vẫn cảm ơn TXA đã điểm sách cho mình.

Phan Thiết, ngày 14/10/2009
Võ Nguyên

________________________________________________________________________

08:44, ngày 15-10 HB9

Võ Nguyên thân mến,

Cảm thụ văn chương là một nghệ thuật nhưng cũng là khoa học. Điều sơ đẳng đó, bào giờ mình cũng tâm niệm trong sự thấu suốt, mặc dù việc điểm sách, phê bình tác phẩm văn học đối với mình chỉ để giao lưu văn nghệ, học thuật mà thôi. Tuy không dám viết bừa chút nào như đã tâm niệm, nhưng thế nào rồi viết về tác phẩm của người khác, anh em, bạn bè văn nghệ, cũng có lúc bị … oán.

Đã quyết không viết bừa, nên mình đọc kỉ, viết kĩ. Sở dĩ Võ Nguyên cho là mình đọc nhanh, viết nhanh, là bởi mình làm việc gì thì dốc toàn tâm, toàn lực để làm.

Nhưng dẫu kĩ đến mấy, mình vẫn luôn luôn sợ tiếp nhận (cảm thụ) sai lệch. Sai lệch này có 2 khía cạnh:

1) sai lệch so với văn bản nghệ thuật (tác phẩm);

2) sai lệch so với ý định nghệ thuật của tác giả khi đọc - viết về tác phẩm trước, trao đổi trực tiếp với tác giả sau.

Nhưng cũng dễ hiểu thôi.

Mình ngại nhất là sai lệch thứ nhất. Trong loại sai lệch này, do đọc không kĩ hay nắm bắt không đầy đủ các chi tiết mã hóa để giải mã. Điều này, mình hết sức tránh. Ngoài ra, có những ý tưởng mình đồng sáng tạo một cách cố ý là chỉ nhằm giao lưu trao, đổi thêm.

Còn với sai lệch thứ hai, cũng có thể là do tác giả khi viết không thể hiện hết (hoặc không thể hiện được) ý định nghệ thuật của họ. Nhà văn, nhà thơ viết bằng ngôn ngữ tường minh còn nghĩ một đằng, viết một đằng, nữa là viết bằng ngôn ngữ văn chương và thông qua việc khắc họa hình tượng để chuyển tải ý định nghệ thuât.

Nói chung, tiếp nhận văn chương bao giờ cũng là đồng sáng tạo, dù cố ý hay không cố ý (tiếp nhận theo tâm thế riêng, tri kiến và cảm quan riêng). Và theo mình, chỉ có thể trao đổi rốt ráo giữa người viết điểm sách, phê bình văn chương với tác giả của tác phẩm văn chương, khi cả hai bên lấy văn bản tác phẩm làm cơ sở chủ yếu nếu không muốn nói là cơ sở duy nhất.

Nhà sáng tác nghĩ A (A không có phẩy) nhưng viết ra trên văn bản là A’ (A một phẩy). Nhà phê bình căn cứ vào văn bản để giải mã là A’ (A một phẩy) hay A’’ (A hai phẩy). Nhà sáng tác trách rằng sao nhà phê bình không giải mã là A (A không có phẩy)! Thế thì lỗi do ai?

Trong cuốn “Ngẫu hứng đọc thơ” (TXA., Nxb. Văn Nghệ TP.HCM., 2005), mình đã trình bày một số ý trong bài “Tiếp nhận và tiếp-nhận-đồng-sáng-tạo”.

Vắn tắt là như vậy. Đây là cả một vấn đề rất lớn. Nếu bàn cho rốt ráo, một chuyên luận cũng chưa bàn hết.

Chúng ta nên thống nhất với nhau một điều: VĂN BẢN TÁC PHẨM là cơ sở chủ yếu trong trao đổi, tranh luận giữa người sáng tác với người phê bình (gồm cả điểm sách). Ngoài ra, các thông tin quanh tác phẩm (về tác giả, hoàn cảnh sáng tác…) cần phải khách quan.

Thân mến,
Trần Xuân An

An Tran Xuan - 20:49 14-10-2009

10:32, ngày 15-10 HB9

Võ Nguyên thân mến,

ĐỂ BỚT ĐƯỢC CHỪNG NÀO HAY CHỪNG NẤY VỀ SỰ NGỘ NHẬN, SAI LỆCH GIỮA VIỆC NGƯỜI SÁNG TÁC MÃ HÓA Ý ĐỒ NGHỆ THUẬT THÀNH HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT VỚI VIỆC NGƯỜI ĐIỂM SÁCH, PHÊ BÌNH SÁCH GIẢI MÃ HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT, DO NHIỀU NGUYÊN NHÂN NÓI TRÊN, MONG VÕ NGUYÊN VIẾT ĐẦY ĐỦ HƠN, VÀ CÓ THỂ GỬI TRỰC TIẾP CHO 2 TRANG THÔNG TIN ĐIÊN TỬ “TRẦN NHƯƠNG COM” & “PHONG ĐIỆP NET”…

ĐÓ CŨNG LÀ VIỆC HẾT SỨC BÌNH THƯỜNG TRONG SINH HOẠT VĂN NGHỆ, HỌC THUẬT.

Thân mến,
TXA.

An Tran Xuan - 01:08 15-10-2009

Truyện ngắn DÂY TẦM GỞI của Võ Nguyên

Để rộng đường thảo luận, xin xem trực tiếp truyện ngắn "Dây tầm gởi" ("Dây tầm gửi") của Võ Nguyên - truyện đã được đăng trên Báo điện tử Khánh Hòa:

http://www.baokhanhhoa.com.vn/Truyenngan/2006/05/133295/

(khỏa chụp link và dán vào thanh link trên màn hình máy vi tính để xem trọn vẹn)

Xin lưu ý một vài câu:

-- "cây bàng còn đôi ba lá. Tóc cô còn lại màu mây"
-- "Gió lặng. Khi bước ra ngoài, một chùm tầm gửi mục ướt tấp vào trước cửa, mơ hồ cô nhìn thấy giò phong lan".
-- "Một trưa hè, Lan ẵm con ngồi cạnh cô trước hành lang tầng thượng, tận hưởng cái mát của nồm non đang thổi. Chợt Lan bồi hồi: “Cô ơi! Tầm gửi lại phủ lên cây mít ở cuối vườn kìa”...".

Trong bài điểm sách, tôi cũng chỉ viết để gợi suy nghĩ, chứ có khẳng định gì đâu:

"Sở dĩ tôi không đề cập nhiều đến “Dây tầm gởi” bởi hình ảnh này có lẽ là một ẩn dụ không thành công của Võ Nguyên. Ai là dây tầm gởi (loài cây cỏ kí sinh, sống bám vào thân cây khác, có nguy cơ khiến thân cây bị bám vào khô héo, chết đứng), trong truyện ngắn này? Nếu là đứa cháu mồ côi ở với bà cô, thì so sánh ngầm ấy tàn nhẫn quá, mặc dù con cháu nào chẳng tầm gởi khi còn thơ bé, chưa thành đạt trong học hành, nghề nghiệp! Nếu dây tầm gởi là đứa con đang ở tuổi ẵm bồng của cô cháu gái, nay đã là tiến sĩ, đã lập gia đình, thì ẩn dụ ấy càng tàn nhẫn hơn, thậm chí là phi lí... Trong thực tế, cháu ngoan, hiếu nghĩa là niềm vui, tăng thêm sức khoẻ của cô, con ngoan, hiếu nghĩa là hạnh phúc, ý nghĩa cuộc sống của mẹ".

Trân trọng,
TXA.

An Tran Xuan - 01:11 15-10-2009

CÂY TẦM GỬI (1)
08:17' 04/05/2006 (GMT+7)
. Truyện ngắn của Võ Nguyên

Mồ côi cha mẹ từ lúc lên năm, Lan ở với cô. Chẳng hiểu sao cô không lấy chồng, ở vậy nuôi Lan. Hai cô cháu quấn quýt bên nhau như hình với bóng. Mười năm trôi qua, ít trưa hè nào hai cô cháu không đưa ghế ra ngồi hóng gió dưới bóng mát gốc cây trước sân nhà. Cây ấy thuộc họ bàng, thân to cao, nhưng lá nhỏ tựa lá tầm vông, nên người ta quen gọi là cây bàng lá nhỏ. Cành khúc khuỷu, vươn lên, tỏa ra, như có bàn tay nghệ sĩ tài hoa tạo dáng cực kỳ công phu, đẹp cổ kính. Cô bảo: “Khi lớn lên đã thấy như thế tự bao giờ, nó thuộc cổ thụ duy nhất ở làng, là nhân chứng lâu đời với mọi biến đổi của gia đình nhà ta”. Cảm giác như cây đang lắng nghe, mơ hồ Lan nhận ra, tưởng chừng nó là hiện thân của bóng hình ẩn khuất từ một cõi thiêng nào đó.

Thường vào cuối thu, lá bàng chuyển đỏ. Khi rơi đến lá cuối cùng, chỉ còn thân cành gầy guộc trơ xương, tưởng như giàn ăng-ten khổng lồ đang bắc sóng âm dương trong cuộc chuyển giao trời đất, trông nó chẳng giống loại cây nào, nhìn sao uy nghiêm mà đơn độc, gợi cho người ngắm một cảm giác nao lòng. Đến mùa lá rụng năm nay, Lan nhìn lên cây bàng sửng sốt: “cô ơi! Xem kìa!”. Trên những cành trơ trụi, bỗng dưng xuất hiện những chùm dây xanh yểu điệu buông mình, đỏng đảnh đong đưa làm duyên trước gió. Cô bảo: “Dây tầm gửi đấy! Nhờ ai lên hái, kẻo nó ăn chết mất cây bàng”. Lan cười: “Đừng thế, cô trông, giống như những giò phong lan, trang trí đẹp thêm cho cây chứ ạ. Mà đôi cọng tòn ten thế kia, ăn chết sao nổi cây bàng. Hái đi tiếc lắm!”. Cô chiều.

Dây tầm gửi càng ngày càng nhận ra nhiều chùm, buông xuống ngày một dài thêm, xanh thêm. Tóc cô mỗi ngày mỗi bạc. Lan vào đại học.

Năm ấy mùa đông, Lan nhìn lên cây bàng thảng thốt: “Cô ơi! Tầm gửi ăn kiệt cây bàng mất. Con phải nhờ ai lên hái mới được”. Cô nói: “Để đấy. Cứ chuẩn bị sáng mai đi học. Khi nào thằng Tấn qua, cô bảo nó hái cho”.

Lan vào trường. Cô lo làm lụng, chuyện hái tầm gửi cũng quên. Hết đại học, Lan tiếp tục học lên, rồi nghiên cứu sinh ở nước ngoài. Thư Lan gửi về có đoạn: “Suốt đời cô khổ để nuôi con, chưa một ngày thong thả. Gắng vài năm nữa, con về. Cô đã nhờ ai hái tầm gửi chưa?…”. Cô nhìn lên cây, màu xanh của lá bàng đã khép lại tự bao giờ, còn lơ thơ, lây lất, nhiều cành đã khô, chỉ còn màu xanh tầm gửi. Nhưng cô cảm thấy mệt mỏi, mặc kệ, cái nào có sức vươn cứ để cho nó sống.

Lan về nước, cây bàng còn đôi ba lá. Tóc cô còn lại màu mây. Trưa hè, cây không còn bóng mát để cô hóng gió. Sức cô đã yếu. Lan không cho cô đi làm. Cô cháu lại gần nhau.

Từ khi nhân vật thứ ba xuất hiện, không khí trong nhà rộn rã hơn. Nhưng từ đó, cô đã nhận ra quy luật cuộc đời, nên lặng lẽ tự khép mình, nhìn cô như bóng dáng một thời xa xăm nào đó, chẳng biết vui hay buồn, chỉ thấy đôi mắt cô ẩn khuất chập chờn sâu kín một cõi tâm linh.

Cây bàng trước sân đã khô. Những chùm tầm gửi cũng héo theo, khô quắt lại. Đến khi cây nứt nẻ dưới nắng, bong vỏ ra từng mảng, rơi xuống, những chùm tầm gửi cũng rơi theo. Chiều quét sân, cô nhặt từng mảng vỏ bàng và từng chùm tầm gửi gom lại. Châm lửa đốt. Khói tỏa sang phía cây bàng một màu sương mỏng lung linh, lan trong không gian mùi hương đồng nội.

Rồi một đêm mưa bão mịt mù, vợ chồng lan không ở nhà, cô nằm nghe gió rít từng hồi qua cành cây trước sân. Tiếng gió xé vào đêm hun hút, rùng rùng dữ dội, bay ù ù vùn vụt qua mái nhà. Cô thiếp đi lúc nào chẳng biết. Bỗng cô nghe như có ai oán rên la, van vỉ đến não lòng, giật mình thức giấc. Trời tảng sáng, bão chuyển gió trả, giật thốc lên từng cơn ghê sợ, cây cối quanh vườn chao lộn oằn xuống bật lên như vũ điệu điên cuồng; bỗng vang lên âm thanh răng rắc khô khốc, lạnh người. Rồi đánh “ầm” một tiếng, rúng cả ngôi nhà ngói cổ. Cây bàng đã gãy ngang thân, đổ sập xuống đánh vỡ trên một góc ngói phía nhà ngang.

Gió lặng. Khi bước ra ngoài, một chùm tầm gửi mục ướt tấp vào trước cửa, mơ hồ cô nhìn thấy giò phong lan.

Sau trận bão, vợ chồng Lan quyết định bán dãy nhà ngang và phần đất bên ấy. Cô bảo: “Nhà là nhà tự. Đất là đất hương hỏa”. Lan cười: “Đất rộng ai làm! Nhà tự thì xây lại”. Cô im lặng. Vợ chồng Lan xây một ngôi nhà hai tầng ngay trên khoảnh đất cây bàng trước đó, vừa cổ kính vừa hiện đại, xinh đẹp nhất vùng, dành phần trên để cô thờ phụng tổ tiên.

Một trưa hè, Lan ẵm con ngồi cạnh cô trước hành lang tầng thượng, tận hưởng cái mát của nồm non đang thổi. Chợt Lan bồi hồi: “Cô ơi! Tầm gửi lại phủ lên cây mít ở cuối vườn kìa”. Cô bảo mắt mờ, có thấy gì đâu. Lim dim ngửa mình ra chiếc ghế mây, mơ màng cô thấy cây bàng khô hiện ra, bỗng dưng đâm chồi, xanh lại, phủ bóng xuống sân. Hai cô cháu lại bắc ghế ngồi bên nhau. Một trưa hè vắng lặng, êm đềm.

V.N
Theo Báo Bình Thuận

http://www.baokhanhhoa.com.vn/Truyenngan/2006/05/133295/

-----------------------

(1) Đúng nguyên văn trong tập truyện "Khát mùa chim di trú" của Võ Nguyên, Nxb. Thanh Niên, 2009: "Dây tầm gởi". TXA. chú thích.

An Tran Xuan - 02:49 31-10-2009

TRẢ LỜI QUÝ NGƯỜI ĐỌC:

Truyền thuyết chim bồ nông (le pélican), chim mẹ tự mổ vào ngực mình để cho đàn chim con trong tổ có thức ăn (máu thịt của chim mẹ) giữa những ngày bão rét, vốn đã phổ biến ngàn xưa. Thomas d'Aquin vận dụng truyền thuyết ấy để minh họa cho “Mình và máu Chúa Jésus” trong Kinh Thánh, hay Alfred de Musset ví von như sứ mệnh thi sĩ, và một tác giả nào đó viết thành một truyện ngắn có tính chất ngụ ngôn, khá nổi tiếng, ca ngợi lòng mẹ hi sinh thân mình cho đàn con, tôi đã đọc cách đây mấy chục năm, là ba sự việc khác nhau, tùy theo cách vận dụng của từng người. Tôi chỉ nhắc lại truyện ngắn ngụ ngôn ấy mà thôi, không liên quan gì đến Thomas D’Aquin cũng như Alfres de Musset. Vả lại, tôi nhắc đến khi viết điểm sách, trong đó có đề cập về truyện “Chuối hoa” của Võ Nguyên, vì truyện “Chuối hoa” của Võ Nguyên khiến tôi liên tưởng đến truyện ngắn về chim bồ nông (le pélican) ấy. Đơn giản có thế thôi. Xin lưu ý “Chuối hoa” là truyện ngắn của Võ Nguyên, mà tôi chỉ là là người viết bài điểm sách. Truyện thế nào, tôi phân tích thế ấy, mặc dù chỉ lướt qua và có thêm vài dòng bình luận riêng của tôi.

Về những vấn đề trên, nhất là quy luật nghiệt ngã, tàn bạo của giới tự nhiên (cây cỏ, cầm thú…), quý người đọc cũng có thể xem tiểu thuyết “Mùa hè bên sông” của tôi (một tiểu thuyết mà tôi đã ghi chú: Không thể cắt xén một chữ nào). Tiểu thuyết này vốn đã được cấp giấy phép xuất bản, nhưng nhà xuất bản cắt một vài trang. Tôi không đồng ý việc cắt bỏ vài trang đó, và do vậy, đến nay vẫn không thể in thành sách in giấy (xuất bản chính thức) được.

TXA.