m. Tiểu mục 13 - Sưu hợp tuyển của nhiều tác giả (đã hoãn): Bích Ngân

 

 

      authorS's

      copyright

TRẦN XUÂN AN

( sưu tập, tuyển chọn & giới thiệu )

văn của những người cùng thời

trong và ngoài nước

 

                                                                                                               12/23/06

 

 

Tác phẩm

của

những người

cùng thời:

 

Thơ

 

n

 

Luận

 

...............................

Người sưu tuyển

& giới thiệu:

 

Liên lạc

 

Góp ý

 

                             

 

        

văn

CỦA NHỮNG NGƯỜI CÙNG THỜI

 

Trang 4

 

 

 

1. Phùng Gia Lộc - Cái đêm hôm ấy ... đêm gì?  --  trang 1

2. Hàn Vũ Hùng - Chuyện một lãng tử  --  trang 1

3. Thu Nguyệt - Quê hương ở đâu?  --  trang 2

4. Hàn Nguyệt - Trinh nguyên --  trang 3

http://c.1asphost.com/TrXuanAn/an/trangcnncthoi/trangcnncthoi_van_tr3.htm

5. Bích Ngân - Người đàn bà bơi trên sóng; Phía mặt trời & Tiếng gọi của con chim sáo - trang 4

http://c.1asphost.com/TrXuanAn/an/trangcnncthoi/trangcnncthoi_van_tr4.htm

6. ...

 

Xem tiếp: Mục lục...

 

 

Cũng có thể xem tại:

http://www.tranxuanan-trangcnncthoi.blogspot.com

(các links thuộc 1asphost có khi bị trở ngại)

 

 

 

5

BÍCH NGÂN

nhà văn

 

 

 

 

 

(bấm vào ảnh để xem ảnh cỡ lớn)

 

.

Họ & tên: Trịnh Bích Ngân

Sinh ngày 11 - 8 - 1960

Quê quán: Cà Mau

Tốt nghiệp khoa ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp TP. HCM.

& Trường Viết văn Nguyễn Du, Hà Nội (khoá 4)

Hội viên Hội Nhà văn TP.HCM.

Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam

 

.

Tặng thưởng & giải thưởng:

- Kịch bản văn học Hội Sân khấu TP. HCM., 1993

- Bút kí Tuần báo Văn Nghệ Hội Nhà văn Việt Nam 1997

- Tác phẩm văn xuôi xuất sắc trong năm, Hội Nhà văn TP. HCM., 2006

 

 

.

Tác phẩm đã xuất bản:

- Đâu phải là tình yêu (tập truyện ngắn, Nxb. Mũi Cà Mau, 1988)

- Những chiếc lá thu (tập truyện ngắn, Nxb. Hội Nhà văn, 1993)

- Bão, sợi dây & giọt đắng (tập truyện ngắn, Nxb. Văn Nghệ TP.HCM., 2002)

- Người đàn bà bơi trên sóng (tập truyện ngắn, Nxb. Văn Nghệ TP.HCM., 2005)

 

 

. 

 

truyện ngắn 1

 

Người đàn bà bơi trên sóng

 

 

 

Bích Ngân

 


 

Bà Thu không ngạc nhiên khi nhận ra sự cố nơi chiếc đồng hồ sinh học của mình, dù mọi ngày nó vận hành chính xác đến từng phút.

     

Mọi ngày, bốn giờ kém hai mươi, bà dậy, ra khỏi giường, vào buồng vệ sinh, cởi bỏ chiếc áo ngủ, mặc bộ quần áo thể dục, uống một ly nước lọc, xịt một chút nước hoa vào lòng tay và nhè nhẹ xoa vào mang tai, ngồi vào bàn đọc hay viết cái gì đó cho đến năm giờ. Năm giờ năm phút bà ra khỏi nhà, nhập vào nhóm bạn kéo ra công viên có nhiều cây nhiều tiếng chim, tập những động tác thể dục theo phương pháp dưỡng sinh dành cho những người cao tuổi. Rồi cả hội râm ran trò chuyện, dạo vài vòng theo lối mòn quen thuộc và bao giờ cũng dừng lại bên gánh sữa đậu nành nóng của người đàn bà gầy gò luôn quấn khăn kín cổ, mỗi người một ly. Cạn ly sữa, chia tay nhau, mỗi người một ngả, trở về mái nhà của mình. Và ngày nào cũng như ngày nào, sau một chuỗi công việc, bà cũng khép cửa phòng lên giường ngủ lúc chín giờ tối.

     

Nhịp điệu sinh học đều đặn ấy vẫn giữ được đến ngày thứ ba khi bà Thu dự trại sáng tác văn học tại một thành phố biển. Sang ngày thứ tư, lúc bà Thu cùng Kim, cô bạn đồng nghiệp, đang ở cùng phòng với bà, chỉ cỡ độ tuổi con gái út bà - tuy vẫn xưng em gọi chị với bà - đang chạy khởi động trên bờ trước khi xuống nước thì bà chợt nghe tiếng gọi: "Thu phải không, có phải Thu không ?". Phản xạ đầu tiên của bà là dừng chạy, cúi xuống, kéo chiếc áo khoác che phần ngực và bụng.  

     

Bà Thu nhận ra một mái tóc bạc trắng, một chòm râu cũng bạc trắng; rồi một bộ ngực còn nở nang và một thân thể còn rắn rỏi như không phải được gắn với mái tóc kia, chòm râu kia đang bước những bước quả quyết tiến về phía mình. Bà lật đật kéo choàng sợi dây chiếc áo khoác buộc ngang bụng, đứng nguyên một chỗ, trân trân nhìn người đàn ông, ngỡ ngàng thốt lên: "Anh Hà, đúng rồi, trời ơi, anh Hà !". Ông Hà khựng lại, cách bà Thu một khoảng chừng một sải tay: "Thu thay đổi nhiều lắm, suýt nữa tôi không nhận ra!"...

     

Bà Thu vẫn đau nhói bởi câu nói ông Hà khi sáng. Sao ông ấy có thể buông một câu vô tình đến thế ? Còn đối với bà, hơn 40 năm đằng đẳng bà vẫn giữ  gần như trọn vẹn những gì hai người đã có với nhau. Đi gần hết cuộc đời với bao biến cố, đổi thay, được mất, hạnh phúc, đắng cay, khao khát, chờ mong... bà vẫn gói ghém, ràng rịt, lưu giữ, chôn cất tận nơi thẳm sâu của hồn, của ký ức những hình ảnh và cảm giác hạnh phúc cũng như đau khổ mà bà đón nhận được từ mối tình đầu.

     

Mối tình đầu, có lẽ chỉ đúng với bà - đúng với cô Thu ngày xưa. Còn với Hà, chàng thanh niên bảnh trai, con nhà giàu, được ăn học, được nuông chìu thì đã là tình thứ. Sự từng trải ít nhiều đối với phụ nữ khiến Hà như được tẩm thêm một chất men. Thu chếch choáng trước những cơn sóng tình mạnh mẽ, cuồng nhiệt nơi Hà. Ngay cả khi bị khước từ, bị bỏ mặc, cô cũng ngất ngưỡng trong tâm trạng của kẻ say. Tuy nhiên, cô gái bị phụ bạc đã không tức tưởi chạy theo, không điên cuồng đuổi bắt, không ỉ ôi van xin, không quyết liệt đi đến cùng sự thật là gia đình đã dạm hỏi cho Hà một người con gái kém xa Thu về nhan sắc nhưng giàu, rất giàu. Cô chỉ ngồi câm lặng trước biển - bờ biển ngày ấy thưa thớt bước chân và hoang vắng lắm - nơi hai người gặp nhau và yêu nhau. Ngồi cho đến khi cô thấy sơ sự thăm thẳm của biển cả và sợ sự cuồng nộ của những con sóng. Chúng có thể cuốn đi tất cả, kể cả nỗi đau còn lại, nỗi đau mà cô muốn giữ. Nỗi đau ấy khi ẩn khi hiện ngay cả những lúc bà Thu đón nhận những rung cảm yêu thương và sự che chở của người chồng, người cha của những đứa con của bà. Với bà, vết tích quá khứ không phải là hình bóng lặng lẽ mà là một bóng ma ám ảnh. Chúng ẩn nấp và lộ diện bất cứ lúc nào, nơi nào. Chúng có thể thô bạo rứt bà ra khỏi vòng tay âu yếm của chồng. Chúng còn xấn xổ chen vào chiếc giường ngủ của bà và chập chờn trong những giấc mơ mà bà không muốn mơ. Chồng bà là một người độ lượng, đủ rộng lớn và sằn sàng chứa đựng, bao bọc con người nồng nàn chân thành yếu đuối lầm lỗi của chính bà. Nhưng, cho đến trước lúc trút hơi thở cuối cùng, bà Thu mới nhận ra được từ ánh mắt trăn trối của chồng nỗi đau mà ông giấu kín: "Tôi yêu thương mình hết lòng nhưng tôi vẫn hận mình !". Bà vuốt mắt cho chồng và nấc lên...

       

Sau giây phút ngỡ ngàng trước cuộc hội ngộ bất ngờ, ông Hà ngoắc một lũ cháu gọi ông bằng nội bằng ngoại đang lặn ngụp dưới nước đến trước mặt để giới thiệu với bà Thu. Lũ cháu răm rắp nghe lời ông, đứa trước đứa sau khoanh tay cúi chào bà Thu rồi chạy ào xuống nước. Ông Hà nhìn theo lũ cháu, hỏi: "Thu có đông con đông cháu không ?". "Chắc không thua gì anh ?". "Thu có thường ra đây ?". "Lâu lắm rồi !" ."Hèn gì mình không gặp nhau". Không tìm nhau thì sao gặp được, bà Thu muốn buột miệng nói thế nhưng kịp ghìm lại. Ông Hà chỉ tay về phía ngôi nhà nhiều tầng nằm trên dãy phố, mặt nhà hướng ra biển, nói: "Chiều nay mời Thu đến nhà tôi ăn cơm, Thu nhận lời nghen !" Bà Thu chưa kịp nói gì, ông Hà lại nói: "Bà nhà tôi đã mất mấy năm nay !"

    

Khoảng năm giờ chiều, leo lên ban công tầng hai của trại sáng tác, bà Thu thấy ngôi nhà của ông Hà khá gần. Bà còn thấy rõ hai màu sơn hồng và xanh của ngôi nhà, rồi giàn hoa giấy với sắc tím đỏ rực, những giò lan treo lủng lẳng và những chiếc lồng chim đung đưa trước gió tuy bà không nghe được tiếng hót ríu ran. Nhìn từ ngoài, bà Thu cũng có thể đoán biết đó là một mái ấm tươi vui. Bà hình dung ra căn phòng tươm tất của ông Hà với những tấm ảnh được lồng vào khung treo trên tường. Bà còn thấy nụ cười mãn nguyện của ông Hà bên cạnh vợ cùng những vật dụng đẫm hơi hướm và kỷ niệm từng gắn bó giữa họ.

      

Bà Thu chợt sây sẩm mặt mày như bị trúng gió. Bà trở về phòng, lấy lọ dầu gió xanh bôi lên hai màng tang, lên cổ, lên ngực và quyết định là sẽ không đến nhà ông Hà. Bởi, đối với chủ nhân ngôi nhà, bà không phải là khách; càng không phải là người thân, dù ông Hà đã từng sở hữu trọn vẹn trái tim bà. Lẽ ra, ông Hà, lũ con cháu, tiếng cười, tiếng nói và cả tiếng khóc từ trong ngôi nhà ấy phải thuộc về bà... Không, không, bà không thể làm một người khách gượng gạo, chào hỏi năm ba câu xả giao và giả vờ thương tiếc thắp ba nén nhang cắm lên lư hương người đàn bà đã rứt bà ra khỏi cuộc đời ông Hà và xoá sạch bà trong mớ ký ức bề bộn của ông.

     

Bà Thu xuống nhà ăn rất muộn, cố nuốt hết chén cơm rồi lật đật trở lại phòng. Hết nằm lại ngồi, bà Thu lấy làm kinh ngạc khi thấy mình cứ phấp phỏng như chờ như đợi mà không rõ chờ đợi điều gì. Cũng có thể là cú điện thoại nhắc lại lời mời dùng cơm rằng, ông Hà và con cháu đang quây quần bên bàn ăn đợi bà đến hay nếu bà không thích dùng cơm thì ông Hà muốn mời bà đi dạo dọc theo bờ biển rồi sau đó tìm cái quán nước khuất gió nào đó; ông Hà gọi một ly cà-phê đen, còn bà có thể nhấp nháp ly chanh nóng rồi đi loanh quanh một hồi và tạt vào hàng ăn, gọi hai tô cháo mực, món ăn mà ông Hà và cả bà từng rất thích...

    

Chiếc điện thoại nằm im, không một hồi chuông. Bà Thu trùm mền, nằm co như con tôm luộc, vùng vằng, chống cự với chuỗi ký ức tưởng đã lịm chết. Gần hai giờ sau, chuông điên thoại reo. Bà Thu tung mền, ngồi dậy, áp tai vào vào  ống nghe. Bà nhận ra cái giọng hăm hở của Kim: "Bọn em đang uống cà phê đợi trăng lên. Biển đêm tuyệt lắm ! Cả hội đợi chị ở cái quán cạnh hàng dương!". Cố lấy giọng tự nhiên, bà Thu nói: "Cả hội đừng đợi, chị sợ gió biển !". Kim vẫn không chịu thua: "Chị khoác áo cho thật ấm vào, ra đây tụi em úm cho!". Bà Thu đành nói: "Thôi, đừng ép nhỏ à, bà chị đang không... vui !" Nói hết câu, bà Thu thấy nước mắt mình chảy tràn xuống má.    

     

Nửa giờ sau, Kim kéo theo Thuỵ, cũng một đồng nghiệp trạc tuổi Kim, chạy xộc vào phòng. Trước Kim và Thuỵ, hai đồng nghiệp, hai người đàn bà quá nhạy cảm, dễ bốc đồng, ưa thích sự rạch ròi, cái gì cũng muốn rõ nguồn cơn, bà Thu đành bộc bạch nỗi lòng. Bà còn mở sắc tay, lấy ra một cái bóp nhỏ xíu được cất riêng trong một ngăn và mở ra cho Kim và Thuỵ xem tấm ảnh chân dung đen trắng được ép nhựa, cỡ 3x4 của một thanh niên. mặc sơ - mi trắng, mắt sáng, mũi cao, trán rộng và trẻ như một sinh viên chưa ra trường. Kim cầm tấm ảnh, nhìn bà Thu: "Em phục chị sát đất, chừng đó năm mà chị vẫn ôm giữ bóng hình xưa như một báu vật !". Còn Thuỵ hậm hực: "Chị để bọn em tìm cách phục thù !". Bà Thu ấn ngón tay vào trán Thụy: " Đừng bày trò con nít cô ạ !". Lúc bà Thu chăm chú cất tấm hình vào ngăn bóp, Thuỵ và Kim nháy mắt, quéo tay nhau. Bà Thu giữ chiếc bóp nhỏ trên trên tay, nhìn hai cô bạn trẻ: "Hồi đó chị cũng nghĩ quá khứ là của ngày hôm qua, nó sẽ mãi ở bên kia cái ranh giới của những điều đã qua. Khi được sống nhiều và tuối tác đã ở phía xế chiều, chị nhận ra là vết tích của ngày hôm qua hằn  rõ lên cái gam màu của ngày hôm nay và không chỉ của ngày hôm nay...".

   

Ngày hôm sau và những ngày tiếp theo, những buổi bình minh, bà Thu không có mặt ở bãi biển, dù bà biết sáng nào Kim và Thụy cũng gặp ông Hà cùng lũ cháu ngụp lặn nô đùa ngoài ấy.

.

Ở lại trong phòng, qua khung cửa sổ hướng về phía biển, bà Thu dễ dàng nhận ra hai cái dáng cao cao, cân đối, trắng trẻo của Kim và Thụy trong bộ áo tắm. Kim xem ra còn sáng chói hơn Thụy với bộ bikini màu vàng hoa cúc. Ngày thường trong những bộ quần áo bụi bụi, trông Kim và Thuỵ chẳng có gì là nổi bật, cuốn hút nếu không gần gũi, trò chuyện để nhận ra những đợt sóng cồn cào nơi tâm hồn ít khi phẳng lặng ở họ. Ngày yêu ông Hà, bà còn trẻ trung hơn, quyến rũ hơn cả Kim và Thuỵ với đôi chân thon dài, eo nhỏ, ngực nở, da mịn, mắt đen láy và mau nước mắt. Bất giác bà nhìn xuống bộ ngực chảy xệ của mình. Thời gian cũng như những con sóng ngoài kia, chúng nhẩn nha bào mòn và dập vùi mọi thứ. Và vẻ đẹp của hình hài của da thịt bao giờ cũng là cái đẹp dễ lụi tàn, dễ đánh mất dù con người có lùng sục mọi phương kế để trì hoãn, kéo níu. Như lúc này, bà Thu chỉ muốn vóc dáng mình gọn hơn một chút, những đường gân xanh nổi cộm trên vế trên đùi tạm lặn sâu vào máu thịt để bà còn chút tự tin hất bỏ chiếc áo khoác lùng nhùng và bước xuống bãi tắm, nơi có đôi mắt từng chiêm ngưỡng đắm đuối cái nhan sắc thuộc về bà. Bà Thu thở dài. Tuy vậy, bà vẫn không rời chỗ cửa sổ. Vẫn dõi mắt về phía bãi tắm nhộn nhạo người.

     

Bà Thu nhận ra ông Hà với chiếc quần tắm gọn gàng, trông ông vẫn còn tráng kiện như một trung niên, nếu như chòm râu và mái tóc không bạc nhường kia. Ông Hà nhanh nhẹn, khi lên bờ khi xuống nước, khi vùng vẫy bơi ra xa bờ, khi lại dạy cho lũ cháu những trò chơi trên bãi biển như bắt còng, ném bóng, nhảy sóng. Khi không bận bịu với lũ cháu, một mình ông bơi thật xa, bơi về phía chân trời, nơi con thuyền đánh cá được sơn phết rực rỡ đang chơi vơi tròng trành trên sóng. Rồi ông lại thong dong bơi trở về và lại nằm dài trên bãi cát, hết nằm sấp lại nằm ngửa rồi lăn lộn nhiều vòng trên cát mịn với tất cả vẻ thoả thê thích thú của kẻ biết tận hưởng cái cảm giác được sống và vui sống. Bà Thu còn thấy, Kim và Thụy cũng lân la trò chuyện với ông và hình như cả hai đang nhờ ông tập bơi. Bà biết, hai cô nàng chỉ bơi giỏi kiểu bơi của con rái cá, tức khi bơi chỉ có phần đầu nổi lên trên mặt nước, trông vừa không đẹp lại vừa mỏi cổ và khó có thể bơi được xa. Bà thấy ông Hà lần lượt đặt từng cô nàng nằm dài trên mặt nước như một miếng gỗ bập bềnh. Rồi ông điều khiển khối gỗ mềm mại đó với tất cả động tác thuần thục, nhẫn nại của một huấn luyện viên.

    

Nắng lên. Khi ông Hà, lũ cháu và hai cô bạn đồng nghiệp không còn ở bãi tắm; bà Thu mới khoác lên người chiếc áo choàng sau khi đã mặc áo tắm, đội lên đầu chiếc mũ rộng vành, mang lên mắt chiếc kính râm. Bà lặng lẽ ra bãi tắm. Ở đó, bà bỏ dép, bỏ áo khoác lại trên gờ đá. Bà dò dẫm đôi chân trần trên cát. Bãi cát dài và rộng. Bàn chân bà đôi lúc chạm phải cái lổn nhổn gai góc của đá và vỏ sò vỏ ốc. Dã tràng thóat ẩn thóat hiện để lại trên bãi cát những phác thảo dở dang. Bà đi.Từng bước, từng bước, cảm nhận sự mịn êm từ cát từ gió từ nước và những bất trắc có thể gặp phải từ những con ốc con sò đã mục rửa hay những gờ đá phủ rêu. Rồi bà từ từ đầm mình xuống nước. Chân, bụng, ngực, cổ. Mát dịu và xốn xang. Bà bơi. Hướng về phía mặt trời long lanh trên từng ngọn sóng. Phía ấy còn có một con thuyền đánh cá với màu sơn vàng đỏ. Hình như khi nãy ông Hà cũng đã bơi về phía ấy, phía con thuyền mong manh neo chênh vênh giữa trời và nước.

 

Ánh sáng rỡ ràng của mặt trời làm bà chói mắt. Vô số những ngọn sóng như được dát bạc, cuồn cuộn, cuồn cuộn trôi ngược về phía bà. Chiếc thuyền vừa hư vừa thực vừa gần vừa xa không ngớt tròng trành. Mũi thuyền càng lúc như càng được nâng cao, nâng cao và không mấy chốc như vướng vào chân mây.

      

Bà Thu thấy mệt. Mặt trời càng lúc càng chói chang. Mặt biển cồn cào những con sóng chói loà. Con thuyền trước mặt, vẫn con thuyền sơn hai màu vàng đỏ và không thấy giương buồm, cũng chẳng nghe tiếng máy rền rền nhưng nó đang xê dịch. Xê dịch từng chút, từng chút và đang nhích dần về phía mặt trời. Sóng như vô số cánh tay lóng lánh đang nâng con thuyền lên, lên mãi. Con thuyền không còn vướng vào mây mà như chạm được vào cái vòng hào quang chói lọi của mặt trời. Bà Thu hoa mắt. Tuy nhiên, bà cũng còn đủ tỉnh để nhận biết, chỉ cần rướn thêm một quãng nữa thôi là bà sẽ không còn có cơ hội để quay về. Hốt hoảng, bà lật đật xoay người, bơi ngửa, hướng về bờ cát mà bà đã bỏ lại khá xa. Bà bơi với sức lực của kẻ muốn được quay về. Không chỉ quay về với cái vết thương buốt nhói của quá khứ mà còn quay về với niềm vui nỗi đau mà bà đang có.

      

Sau lần suýt bị sóng biển cuốn trôi, bà Thu không ra biển nữa. Tuy nhiên, bà cũng không nén được nỗi khát khao được ngắm biển người lô nhô ngoài kia, ngắm chân trời và mặt biển trong nắng sớm. Bà đứng, nhiều khi cả giờ, mải miết nhìn và không tập trung vào một mục tiêu duy nhất tuy không khỏi ngỡ ngàng trước sức lực dẻo dai kỳ lạ của người đàn ông mà bà biết sẽ ám ảnh bà cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay. Bà cũng tìm thấy hai cô bạn đồng nghiệp trẻ trung, tràn trề sinh lực trước mặt trời và sóng nước. Rồi bà đưa mắt nhìn rộng hơn, xa hơn và càng cảm nhận rõ cái giới hạn của tầm mắt, cái vô hạn của biển đời và cái hữu hạn của mỗi cuộc đời.

    

Phía bát ngát muôn trùng trước mắt bà rộng mở những chân trời.Và trong biển người ngụp lặn ngoài kia, sau những giờ phút thả mình thư giãn với mây trời sóng nước, mỗi người lại xốc trên vai mớ hành trang nặng nhẹ của mình, lại tiếp tục cuộc hành trình. Với bà, điều quan trọng nhất  trong cuộc hình trình khó nhọc của đời người không phải là cái đỉnh phải trèo lên cho bằng được hay cái đích phải đặt chân đến mà là lòng tin và những bước chân. Bà cũng đã gắng gỏi bước đi bằng sức lực và lòng tin của chính mình. Nghĩ đến điều đó, trong bà vơi đi cái cảm giác bồn chồn và tâm trạng cũng lắng đi nỗi sợ "bóng chiều" mà phàm đã làm người không một ai tránh khỏi.Và dù lòng vẫn khắc khoải, vẫn giằng níu nhưng bà cũng đành phải cố xua đi hình ảnh, ký ức của "người xưa" để vùi vào trang viết.

     

Cũng như mọi khi, những trang viết khiến bà mệt lả và hạnh phúc. Tuy nhiên, cũng khác hơn mọi khi, bà thấy nỗi đau của chính bà, nỗi đau vừa cũ vừa mới cứ thấm đẫm trên từng trang viết. Đọc lại, bà thấy không thích. Bà không muốn bày tênh hênh cái nỗi đau của chính mình lên trang giấy và đem bày bán cho người đời. Bà xé và vo tròn những trang giấy chi chít chữ vứt vào sọt rác. Bàn bên cạnh, Kim đang gò lưng cày xới trên mảnh đất văn chương vừa khô cằn hạn hẹp vừa phì nhiêu mênh mông của mình. Muốn ho lên một tiếng, muốn nói với Kim một câu gì đó cho bớt đi cái bứt rứt chưa thể hiện được những ý tưởng đang dồn ứ trong óc trong tim nhưng thấy cái vẻ căng thẳng phấn khích của cô bạn đồng nghiệp, bà Thu không nỡ. Chợt có tiếng gõ cửa. Bà Thu xỏ dép, lệch xệch đi về phía cửa. Cảnh cửa vừa mở, Thuỵ lách vào, liếng láo nhìn bà Thu rồi nhìn Kim, nói như chì chiết: "Chiều mai về rồi mà tối nay các vị còn tự hành xác chi nữa?". Kim ngừng viết, quay lại: "Tau đang viết được một chương đã lắm !". "Về tình yêu à?", Thụy hỏi. Kim nhấn nhá :"Về một mối tình tan vỡ khi nó mới hình thành, về sự ngộ nhận  và ảo vọng". Bà Thu im lặng. Thấy ngột ngạt, Thuỵ liền đọc hai câu thơ quen thuộc: "Tôi còn buồn là tôi còn sống. Tôi còn viết là tôi còn yêu". Bà Thu tiếp lời: "Chị đang nửa sống nửa chết vì không viết được cái điều mình muốn viết". Thuỵ ngồi xuống cạnh bà Thu: "Vậy tối nay chị với nhỏ Kim đóng chặt cửa mà viết tiếp, nhưng sáng mai chị phải ra biển bơi với bọn em!". Không đợi câu trả lời, Thuỵ đứng lên: "Với lại, chị còn phải chia tay với... biển nữa chớ !". Trước khi ra khỏi cửa, Thuỵ còn quay lại nháy mắt với Kim.

.

Bình minh ở thành phố biển đến thật sớm. Tiếng chuông chùa đâu đó vỡ ra, ngân dài, đánh thức thành phố. Phút chốc thành phố bừng tỉnh trong tiếng bước chân của những người tập thể dục. Khác hơn mọi khi, Kim, Thuỵ và bà Thu không đi thẳng một mạch xuống bãi tắm mà đi ngược về phía hàng dừa dọc theo bờ biển. Từ đó cả ba men theo bờ cát để vòng về bãi tắm quen thuộc. Họ đi chậm, nhìn ngắm và lắng nghe tiếng gió vi vu trên ngọn dừa, tiếng sóng rì rầm, tiếng vang vọng thẳm sâu của biển cả.

       

Bàn chân trần của bà Thu in lên lớp cát mịn còn ẩm sương đêm. Cảm giác mát lành râm ran chạy khắp cơ thể khiến bà thêm bịn rịn. Bờ biển này, thành phố này đã đẩy đưa bà đến những cung bậc chót vót của cảm xúc. Bà được thả mình trong nỗi hân hoan xao xuyến và nén chặt lòng trong khắc khoải chờ mong. Chỉ ở nơi đây và cho đến cái tuổi chân đã yếu mắt bắt đầu mờ bà mới cảm nhận rõ ràng hơn nỗi đau yêu thương vẫn còn tiếp tục dày vò trái tim mình. Bà bần thần trước phát hiện đó và không dám nghĩ tiếp mà dõi mắt phía khơi xa. Màu xanh đặc sánh của sa mạc nước dần dần nhường chỗ cho màu trắng nhạt. Một lúc sau trên nền trắng như dãy lụa mờ ấy là màu hồng của vầng dương mới nhú.

     

Đứng trước bãi tắm, bà Thu cứ thẩn thờ trước vẻ đẹp của mây trời cứ lướt qua vùn vụt. "Chào Thu, sao mấy ngày qua không thấy Thu tắm biển ?", bà Thu quay lại, gật đầu chào ông Hà thay cho câu trả lời. Có lẽ cũng không chờ câu trả lời, hai tay dắt hai đứa cháu, ông Hà đi qua bà Thu, đi qua với bươc chân thong dong của một người không vướng bận. Kim và Thụy từ sau lưng bà Thu chạy tới, mỗi người nắm một cánh tay, kéo bà Thu xuống bãi tắm. Bà Thu gỡ tay Kim, Thụy ra, la í ới: "Đồ quỷ, chờ tau cởi áo khoác cái đã !"

    

Hai cô bạn đồng nghiệp lẩn quẩn ngụp lặn bên bà Thu một lúc rồi bỏ bà bạn lại bãi cạn sau một hồi nằn nì lôi kéo không được. Thuỵ, Kim sải tay bơi đi và không quên quay lại, cười thân thiện và đưa tay vẫy. Bà Thu cũng đưa tay vẫy vẫy, khích lệ. Kim bơi trước, Thụy đuổi theo sau. Hai cô nàng bơi ra một quảng rồi lại trở vào, không dám bơi ra xa cho đến khi lôi kéo được ông Hà tháp tùng. Bơi cạnh ông Hà, Kim và Thụy tỏ ra tự  tin và mạnh mẽ. Ông Hà như cũng được tiếp sức từ sự tin cậy và dáng vẻ trẻ trung lôi cuốn của hai cô gái. Cả ba bơi ra xa, bơi về phía con thuyền neo chênh vênh ở phía chân trời. Bà Thu không rời mắt khỏi họ. Có lúc bà như chỉ còn thấy ba đốm sáng di chuyển. Rồi dường như họ bơi tới đích, họ đưa tay chạm vào mạn thuyền và lại bơi ngược vào bờ. Thoả thê và mệt nhoài, họ nằm dài trên bãi cát nghỉ một hồi để lấy lại sức và lại tiếp tục bơi. Họ bơi không còn để tới đích là con thuyền không bến bờ kia mà vì niềm vui được ngụp lặn, được trôi nổi, được đắm chìm, được lượng sức mình và được thử sức cùng sóng nước. Nhìn Kim và Thụy sát cánh bên ông Hà, bà Thu thầm cười: "Sự... phục thù của hai cô nàng là thế !". Bỗng dưng, bà Thu muốn rời bãi cạn và bơi ra xa xa. Lòng bà cồn cào ước muốn được vẫy vùng như họ, được một lần nữa thử sức mình.

       

Đi chưa hết bãi cạn, bà Thu chợt nghe tiếng kêu cứu của Kim và của Thụy. Nhìn không còn thấy cánh tay khoẻ khoắn bơi tung nước và mái tóc bạc trắng của ông Hà, bà Thu lật đật quay mặt vào bờ, la lên: "Cứu, cứu, có người bị nước cuốn, cứu, cứu!". Bãi tắm ở thành phổ biển hiền hoà này thường an toàn nên không có phương tiện cứu hộ hay người cứu hộ. Bà Thu thấy hai người đàn ông đang đắp cát trên bờ vội lao xuống nước bơi hối hả về phía người bị nạn. Một phút, hai phút... tim bà Thu như ngừng đập cho đến khi hai người đàn ông mệt lữ  kéo ông Hà lên khỏi mặt nước và đặt cái thân xác rũ riệt tái xanh nằm dài trên bãi cát. Kim và Thuỵ hớt hãi theo sau. Bà Thu luýnh quýnh chen vào giữa cái vòng người vừa hiếu kỳ vừa lo lắng. Bà thụp người xuống cạnh ông Hà và không một giây do dự, cùng một lúc bà vừa đưa tay bóp chặt hai cánh mũi ông Hà vừa gắn chặt môi mình vào đôi môi tái xám. Bà làm động tác hô hấp ấy quyết liệt đến nỗi không đếm xỉa gì đến bộ răng giả của ông Hà không còn bám vào nướu mà vướng víu và làm đau rát môi miệng mình. Bà gấp gửi truyền cho ông tất cả hơi thở mà mình có được. Một giây, hai giây... những nỗ lực điên cuồng của người đàn bà không nguôi yêu thương được đáp lại. Bà muốn thét lên, muốn oà khóc nức nở khi cảm nhận được dấu hiệu hồi sinh từ hơi thở của ông Hà. Tuy nhiên, bà kịp ghìm lại. Bà đứng lên và vội bước ra khỏi đám đông trước khi ông Hà mở mắt và nhận ra bà. Bà đi như chạy. Dấu chân hằn rõ trên bãi cát. Kim và Thuỵ hấp tấp chạy theo, vừa chạy vừa gọi: "Chị ơi, áo khoác chị đây nè !".

 

.

 TP.HCM, ngày 21.6.2004

  BÍCH NGÂN

 

 

.

Nguồn:

http://www.vannghesongcuulong.org/vietnamese/vanhoc_tacpham.asp?TPID=3071&LOAIID=2&TGID=692

 

 

 

 

truyện ngắn 2

Tiếng gọi của con chim sáo

 
 
Bích Ngân
 
  
 
Như một cơn lốc, dịch cúm gà ập vào trại gà của chị Hằng vào một ngày cuối năm. Cả ngàn con gà đang đẻ trứng lăn ra chết. Cầm những con gà mái mập tròn, lông mượt vàng còn nóng hổi trên tay, chị Hằng khóc.  
 
Không khóc sao được khi mỗi sáng ra thăm chuồng, chị vui sướng nhìn những quả trứng trắng ngà lăn lóc đầy chuồng. Những con gà mái lăng xăng mừng rỡ "lóc cóc...lóc cóc..." đón chị bằng thứ ngôn ngữ mà chị và lũ gà đều ngầm hiểu. Mắt chúng rực sáng, chạy ào cả về phía chị. Chị cười bảo: "Ăn cho no, đẻ cho nhiều nghe...". Bây giờ những con gà chết nằm ngổn ngang trong chuồng. Có con chết khi đang ăn. Có con chết khi đang đẻ. Những con sống sót ủ rủ đứng dồn vào một góc. Một không khí lạnh lẽo, tang tóc bao trùm khu chuồng trại.  
 
Mấy ngày sau, dù đã được cách li, sát trùng, tẩy uế chuồng, gà vẫn chết hàng loạt. Chết không kịp chôn. Có người an ủi chị: "Chúng nó đi theo anh Dậu đó chị Hằng ơi".  
 
Anh Dậu, chồng chị, là kĩ sư chăn nuôi. Anh đổ mồ hôi sôi nước mắt gom góp gây dựng được một trại gà vào loại bề thế của cái làng ven sông Vàm Cỏ này. Khi trại gà bắt đầu sinh sôi thì anh Dậu bị bệnh nặng và dù chị Hằng đã tất tả ngược xuôi chạy chữa cho chồng, hết trung tâm y tế huyện đến bệnh viện tỉnh rồi lên bệnh viện ở Sài Gòn nhưng anh cũng không thoát khỏi chứng bệnh nan y. Rồi anh Dậu lặng lẽ ra đi vào một buổi chiều mùa xuân khi nắng tràn vào mái hiên, nơi anh từng nằm sưởi nắng, lắng nghe đàn gà líu ríu ồn ĩ xao động cả một không gian thanh bình và khuấy động cả khúc sông hiền hoà trước mặt. Ba năm trước chị vuốt mắt cho chồng, nay dịch cúm gà đã cuốn phăng công lao gây dựng vất vả của anh.  
 
Chôn những con gà xấu số xong, chị cho công nhân tạm nghỉ. Ngày hai buổi thắp nhang cho chồng, chị thắp luôn nắm nhang cho hàng ngàn con gà đã chết. Thức, chị ngồi lặng hàng tiếng đồng hồ ngoài trại. Chợp mắt, chị hay mơ, những giấc mơ không trọn vẹn với những hình ảnh, những âm thanh không trọn vẹn. Khi thì thấy chồng mình lúi húi bên trại gà, khi lại nghe tiếng anh gọi. Tiếng gọi có lúc thật mơ hồ, khi thì ở bên kia bờ sông nơi có những bụi hoa mua tím rịm; khi thì nhấp nhô hụt hơi bên những con sóng lao xao; khi thì nghe tiếng kêu đòi ăn của lũ gà; khi thì thấy những ả gà mái núc ních, lông óng vàng, mào đỏ chót đang lóc cóc, lóc cóc...  
 
Trong ngôi nhà ba gian tươm tất của chị còn lại ba sinh linh: con mèo suốt ngày lim dim ngủ, con sáo và chị. Con mèo vừa lười vừa ranh. Lúc nào ả cũng muốn bà chủ vuốt ve, cứ cọ cái đuôi dài vào chân tay chị bất kể cả những lúc chị đang buồn héo ruột héo gan. Bù lại hơi hướm của nó cũng đủ răn đe mấy con chuột táo tợn mà dường như biết ngôi nhà thiếu hơi đàn ông nên chúng cứ sục sạo suốt ngày. Con sáo mới là người bạn thân thiết của chị. Đó là kỉ vật của anh để lại. Một kỉ vật thiêng liêng. Khi vay bạn bè vốn liếng lập trại, một người bạn đã tặng anh con sáo. Người bạn cho biết loại sáo này khôn lắm, nuôi chỉ một năm là biết nói. Con sáo lớn lên, lông đen mượt, mỏ vàng, chân chì lanh lợi trong chiếc lồng bằng nan tre mà anh đã công phu vuốt uốn từng nan. Chị vẫn còn nhớ cái cách anh vót những nan tre và miệng thì huýt sáo. Rồi mỗi sáng mỗi chiều tiếng huýt sáo của anh và tiếng nói, tiếng cười của anh làm trái tim chị tràn niềm vui. Một năm sau, khi con sáo bắt chước tiếng chim chào mào, anh bắt đầu tập nó nói. Tiếng đầu tiên là: "Hằng ơi...". Mỗi lần chị đi qua, anh chỉ tay vào chị, gọi: "Hằng ơi...". Con sáo ghếch mỏ, nhìn chị một lúc rồi cũng khó nhọc cất tiếng gọi: "Hằng ơi...". Một tiếng gọi trầm ấm, rất là đàn ông. Nhân lứa gà đầu tiên đẻ trứng, cộng thêm sự kiện con sáo biết nói, anh chị làm bữa nhậu mời bạn bè đến dự.  

Tiệc bày ra, chị Hằng bưng mâm đi qua lồng sáo, nó nghểnh cao cổ hướng về chị và cất tiếng gọi: "Hằng ơi...". Bạn bè ngạc nhiên, tròn mắt thán phục cái giọng rất ư là tình cảm của con sáo. Lí thú hơn, nó lại bắt chước được cái giọng ồm ồm của anh Dậu. Một người bạn lên tiếng: "Dậu này, cậu mà có đi đâu, nghe con sáo gọi chắc bà xã cậu cũng đỡ nhớ". Họ xúm lại bên lồng chim dạy nó thêm: "Hằng ơi, anh yêu em lắm". Con sáo gượng cổ cố nhại theo mấy tiếng "anh yêu em lắm" nhưng nghe không rõ, từng âm cứ dính vào nhau cứ như cơm nếp nấu nhão. Nhưng mỗi khi con sáo nói câu ấy, anh Dậu và chị Hằng đều hiểu nó muốn nói: "Anh yêu em lắm...!"
 
 
Chị Hằng cho con sáo ăn một chế độ đặc biệt: lòng đỏ trứng gà trộn với gạo lức phơi khô, nước uống là nước mưa được hứng từ mái hiên nhà. Dần dần nó nói được nhiều tiếng, nhiều câu. Có ai đến chơi, nó ghếch mỏ chào: "Có khách... Có khách Hằng ơi". Nhiều khi chị Hằng đi qua, nó nhảy chồm về phía chị, ánh mắt chớp liên hồi như vừa mừng rỡ vừa vui sướng và chào bằng một giọng hết sức tình cảm mà chị cảm nhận được: "Hằng ơi, anh yêu em lắm...". Chị nghẹn ngào sững lại, bật thốt thành lời: "Sáo ơi, tao yêu mày lắm". Hôm đưa đám anh Dậu, con sáo xù lông đứng bất động ở một góc chuồng, im lìm như cái xác. Chị Hằng cũng không còn nhớ gì để lưu tâm đến nó. Nỗi đau quá lớn khiến chị quên cả việc cho sáo ăn. Rồi khi vừa từ nghĩa trang về, chị nghe một tiếng gọi khá to và ngân dài: "Hằng ơi...!" như tiếng của anh Dậu âu yếm gọi chị. Chị bàng hoàng giữa căn nhà trống vắng rồi thụp xuống ghế, nước mắt trào tuôn.  
 
Cơn xúc động đi qua, chị đứng lên thắp một nén nhang lên bàn thờ anh thì cũng là lúc con sáo liên tiếp gọi: "Hằng ơi, Hằng ơi... anh yêu em lắm...". Chị hạ chiếc lồng xuống, nhẹ nhàng bắt con sáo đặt vào lòng bàn tay. Hai mắt nó chớp chớp rồi buồn bã gọi: "Hằng ơi...". Chị rụng rời, y như linh hồn anh Dậu nhập vào con sáo, hiện diện trong căn nhà này cùng chị. 
 
Con sáo làm chị nguôi ngoai phần nào nỗi thương tiếc chồng. Lạ từ ngày anh Dậu mất, đàn gà đẻ rất sai. Chị vay thêm tiền ngân hàng, nâng đàn gà từ năm ngàn con lên gấp đôi. Công việc chăm sóc cũng nhẹ hẳn đi nhờ những người công nhân thạo việc và trung thành. Chị Hằng dành nhiều thời gian cho con sáo. Chị thường tưới nước vun bón những chậu hồng quanh đó, lẩn quẩn quanh con sáo để trò chuyện và để thỉnh thoảng được nghe gọi thiết tha: "Hằng ơi, anh yêu em lắm...".  
 
Chị đang ăn nên làm ra nhờ trại gà thì dịch cúm gà ập đến. Một trận cuồng phong, một cơn động đất ập đến cũng chỉ hãi hùng như thế là cùng.  
 
Chị như kẻ mất hồn, ngồi lặng lẽ trong căn phòng có treo chiếc lồng chim sáo phía trước. Như chia xẻ nỗi buồn với chị, con sáo cũng ít nói hơn, nhưng mỗi khi chị thắp nhang cho anh Dậu và đàn gà, nó lại ngân lên rất khẽ: "Hằng ơi...".  
 
Một chiều, khi đang cho chim sáo ăn, ông trưởng ấp bước vào, vẻ mặt nghiêm trang:  
 
- Chị Hằng ạ, tôi biết chị sẽ rất buồn nhưng theo lệnh của thị xã, những ai nuôi chim đều phải giết bỏ để tránh bệnh dịch lây lan...  
 
Chị Hằng không bất ngờ trước thông tin của ông trưởng ấp, nhưng điều đó có nghĩa là con sáo của chị cũng phải đem thiêu huỷ! Như bị một nhát dao đâm thẳng vào tim, chị choáng váng không nói được câu nào, mặt tái đi, cứ như là chính chị cũng sẽ phải bị hoả thiêu.  
 
Ông trưởng ấp đi rồi, chị đến bên lồng mở cửa, lặng lẽ đặt con sáo vào lòng bàn tay. Con sáo như cũng hiểu được sự nghiêm trọng của những gì sắp xảy ra với nó, khép nép đưa mắt nhìn chị, như dò hỏi, như muốn được nghe câu trả lời của chị. Trời ơi, kỉ vật của anh Dậu, một con sáo mang hồn người, người bạn thân thiết cùng chị trong ngôi nhà này sắp vĩnh biệt chị. Vuốt bộ lông đen mượt của nó, nước mắt chị trào ra...  
 
Sáng hôm sau, khi những thanh niên trong ấp đến nhà chị, trong tay là những bao những túi chứa xác nhiều loại chim, chị lật đật bước ra, giọng buồn buồn:  
 
- Đêm qua con sáo nhà tôi bị mèo vồ mất rồi...  
 
Tốp thanh niên định quay ra thì một tiếng ồm ồm cất lên từ trong chiếc tủ đặt khuất sau phòng khách: "Hằng ơi...". Cả tốp sựng lại lắng nghe. Con chim sáo bị nhốt trong ngăn tủ tối tăm cứ liên tục kêu: "Hằng ơi...Hằng ơi..." nghe đau đớn như một lời cầu cứu.  
 
Biết không thể giấu nổi, chị bật khóc như một đứa trẻ và đành mở tủ, đem con sáo ra.  
 
Con sáo quẹt quẹt cái mỏ vào mu bàn tay chị rồi nhìn chị, thống thiết cất tiếng gọi: "Hằng ơi!".  
 
                                                                                                                    Bích Ngân  

 

 

 

Nguồn:

http://ngonngu.net/extra.php?sec=truyen&ssn=tn0169

 

 

 

 

 

 

truyện ngắn 3

Phía mặt trời

 

 

.

Bích Ngân

 

 

Ông Hậu thức giấc khi tiếng vạc ăn đêm còn kêu lác đác ngoài bờ biển. Ngủ ngon giấc trong căn phòng không cần máy điều hòa trên tầng bốn của một khách sạn ven biển khiến ông khoan khoái. Ông đến bên cửa sổ. Ngoài kia, biển vẫn một màu xanh đặc sánh. Xa hơn, những ngọn đèn đánh cá như những vì sao rơi trên mặt nước lung linh.


Chuông nhà thờ thong thả điểm bốn tiếng. Con đường ven biển đã có người chạy thể dục. Ông Hậu dõi mắt hướng ra xa khơi. Vùng biển phía ấy như nhạt hơn. Màu xanh đặc sánh dần dần nhường chỗ cho màu trắng phơn phớt rồi sáng dần, rõ dần. Một lúc sau trên nền trắng hoa huệ ấy là màu hồng. 


Ông Hậu mải ngắm bình minh, không để ý từ cổng khách sạn có một người phụ nữ đang dắt một đứa bé hướng ra phía biển, cho đến khi họ lẩn vào vừng hồng  trước mặt. Đã ở đây hơn một tuần lễ, đã có ngần ấy buổi chờ đợi khoảnh khắc đêm và ngày giao nhau, ông biết khách ngụ trong khách sạn này ít ai ra biển sớm như vậy. Người phụ nữ kia hẳn là người mới tới. Có lẽ đến từ tối hôm qua. À, mà có lẽ không đến từ tối. Bởi mỗi tối, ông vẫn thường ngồi ở quán bar cạnh phòng tiếp tân cho đến khuya. Ông tự nhiên và mạnh dạn bắt chuyện với những người khách trú cùng khách sạn. Khi uống cùng nhau vài ba ly bia, bắt tay nhau đôi ba lần thì sự khác biệt về xứ sở, về ngôn ngữ, về màu da... không có gì là đáng kể. Ông gần như quen mặt hầu hết khách trọ ở đây. Vậy mà không rõ vì sao ông lại ngỡ ngàng và sững lại trước bóng dáng một người đàn bà xa lạ...


Ông thay đồ tắm, khoác lên mình chiếc khăn dài rộng phủ gần kín tấm thân trắng trẻo, các bắp thịt đã bắt đầu nhẽo, dấu hiệu tuổi tác của người đàn ông ở tuổi sáu mươi. Thân thể ấy thường được giữ ấm bằng len dạ ở một xứ sở miền Bắc Âu  gần như lạnh quanh năm mà ông đang định cư. Với lương hưu vài ngàn đô la một tháng, những tưởng ông sẽ có một cuộc sống đầy đủ. Nhưng càng ngày ông càng thấm thía sự khốn khó của kẻ chỉ sống phủ phê trên phương diện vật chất. Nỗi cô độc như lũ gián chui rúc mọi ngõ ngách và không ngừng gặm nhấm. Thường, ông trốn chạy nó bằng những chuyến du lịch. Để xê dịch, để gặp gỡ. Và dường như cái chính là để ngắm nhìn. Ngắm nhìn với đôi mắt thờ ơ của một kẻ không còn mong đợi hay khao khát điều gì. Mùa hè năm nay, ông rời xứ sở lạnh lẽo ấy về thăm quê và đang lưu lại miền biển tràn nắng ấm này.


Khoảng thời gian ngắn ngủi ấy, ký ức bỗng như một cuộn len bị xổ ra đang lăn theo con đường nhọc nhằn của năm tháng. Nhiều lúc ông muốn chúng dừng ở đâu đó, thật lâu.


Ở đâu đó, một bến sông, một mái nhà... đôi khi ông thấy nôn nao, thấy thèm mùi bếp núc, thấy nhớ một giọng nói, một mái tóc, một làn da... và rõ hơn cả là khao khát sự dịu dàng.


Sự dịu dàng luôn hàm chứa thứ tình cảm trao dâng, nó khiến ông rưng rưng và làm ông thơ thẩn hàng giờ. Ông hết sức bối rối khi không ngăn được cái cảm xúc chợt ào đến như một cơn lốc khi thấy bóng dáng của người đàn bà lủi thủi dắt đứa bé đi về phía biển trong thời khắc nhập nhoạng giữa ánh sáng và bóng tối. Cảm xúc ấy không rời khỏi ông, khiến ông phải phá lệ uống cà phê trước lúc tắm biển, cố tìm cho ra tung tích người phụ nữ đó là ai...


Khi ông xuống đến bãi cát, người phụ nữ ấy đã bơi ra xa, về phía vầng sáng hình nan quạt ngày càng trải rộng, sáng hồng trước mặt. Cậu con trai đang nghịch cát một mình. Cho rằng đó là cơ hội tốt để hỏi về người mẹ, ông đến bên cậu bé:


- Cháu tên gì...?


Thằng bé như không nghe thấy tiếng ông, vẫn cúi xuống nghịch cát. Ông hỏi thêm lần nữa, giọng to hơn:


- Cháu tên gì...?


Thằng bé vẫn không ngước nhìn ông. Ông hơi phật lòng, định bỏ đi vì cái tội hỗn láo của nó thì bất ngờ thằng bé ngước lên. Không phải để nhìn ông. Một khuôn mặt khờ dại, vô hồn, mũi tẹt, đôi mắt ti hí như dính vào nhau. Và dù không hiểu biết nhiều về y học, ông Hậu cũng đoán ra được nó mắc bệnh Đao, một căn bệnh ngu đần ở nhiều trẻ nhỏ. Ông ái ngại nhìn thằng bé. Nhìn rất kỹ. Nó chừng bảy tuổi. Tóc vàng hoe. Da trắng bệch. Nó cứ moi tay xuống cát, không biết sẽ để làm gì. Nó như không hay biết sự có mặt của ông. Trong thoáng chốc, ông hình dung nỗi nhọc nhằn, vất vả và cả cay đắng của người mẹ. Một người mẹ bất hạnh và đáng thương. Nghĩ như vậy, ông quyết định ngồi với thằng bé cho đến khi người phụ nữ bơi vào.


Biển đã đông người. Mặt trời như một quả cầu lửa nhô lên khỏi đám mây màu trắng bạc phía chân trời. Giữa bao người đang bơi lội nô đùa, ông không nhận ra người phụ nữ ấy ở đâu. Nhưng không hề gì. Ông sẽ ngồi bên thằng bé. Và ông thầm trách một người mẹ vô tâm, để đứa con bệnh hoạn chơi một mình trên biển. Trong lúc chờ đợi, ông vốc cát đắp cho nó một tòa lâu đài nho nhỏ...
.

Trong khi ông say sưa đắp tòa lâu đài, người phụ nữ đã đứng sau lưng ông. Chị khoác lên người chiếc khăn rộng để che phần da thịt nõn nà trong bộ bikini hai mảnh. Linh cảm có người đang quan sát mình khiến ông ngoảnh lại và bắt gặp một đôi mắt to, sâu thẳm, mái tóc sũng ướt ôm lấy khuôn mặt trái xoan. Ông bối rối, gần như  giật mình trước sự xuất hiện của chị. Và như để thanh minh, ông lên tiếng trước:


-  Tôi tặng cậu bé tòa lâu đài này...!


Đến lượt chị bối rối. Ánh nắng buổi sáng soi rõ khuôn mặt đang hồng lên của chị. Chị cũng rơi vào tình trạng khó xử, không biết trả lời thế nào trước cử chỉ đẹp của người đàn ông mà chị chưa quen. Một tòa lâu đài, dù chỉ bằng cát nhưng được đắp bằng lòng mê say, bằng sự cảm thông dành cho một đứa trẻ bệnh tật và hoàn toàn xa lạ. Chị ứa nước mắt, đứng chôn chân một chỗ. Với chị, tòa lâu đài đó còn quý giá hơn cả tòa lâu đài bằng bạch kim và với sự vô giá của nó, chị không thể nói lời cảm ơn. Cuối cùng, chị chỉ ấp úng nói:


- Anh... anh... khéo tay quá...!


Ông Hậu cười. Nụ cười lịch lãm trước câu  nói "lấy lòng" của chị. Ông dần lấy lại vẻ tự nhiên. Lòng ông rộn lên khi chị - là ông nghĩ thế - tặng ông nụ cười của một phụ nữ còn rất duyên dáng ở độ tuổi trên bốn mươi và một lời ban tặng về bàn tay khéo léo của mình. Ông đưa mắt ra phía biển, tránh nhìn vào đôi chân trắng trẻo, tròn lẳn lấm tấm cát của chị. Nhận ra sự lúng túng của ông, chị cười nói:
 

- Hình như... anh chưa xuống biển...?


- Vâng...


Chị lại cười, như khuyến khích:


- Vậy thì ta cùng bơi đi...!


Ông nhìn thằng bé như muốn nói rằng, ông không muốn bỏ rơi nó.


- Không sao đâu - Chị nói - Nó sợ nước, chỉ thích nghịch cát trên bờ thôi hà...
Thoáng ái ngại nhưng rồi ông cũng cùng chị xuống biển.


Mặt trời bắt đầu chói chang làm cho nước biển trở nên ấm áp. Chị bơi trước ông, bơi về phía những tia nắng lấp lánh trước mặt. Trước mắt chị, những chấm nắng chấp chới như những vì sao tỏa sáng trên sóng. Chị bơi. Đôi mắt nhắm lại, thỉnh thoảng chớp chớp để no mắt những vì sao sáng trên biển. Khoảng cách giữa chị và ông ngày càng xa. Ông, với sức lực của tuổi tác đã không theo kịp chị. Khi ngoảnh lại, chị giật mình thấy ông đang giang tay nằm thở. Ông trôi lờ đờ. Những con sóng nâng ông trên mặt nước. Ông nhìn lên bầu trời màu ngọc bích và cảm giác chính màu xanh bao la của bầu trời đã nhuộm xanh biển cả.

 

Họ nằm tắm nắng. Chị đã bớt ngượng ngùng, bỏ tấm khăn che, để lộ thân hình chắc khỏe. Thân hình ấy như đối nghịch với các cơ bắp đã ít nhiều nhẽo ra ở ông. Nắng khoác lên tấm chăn mỏng màu vàng, như kéo hai người lại gần hơn. Chị bắt chuyện:


- Mẹ con em vừa tới đây xế qua. Em thích biển lắm...


Ông vội nhỏm vậy trước tiếng "em" bất ngờ từ chính miệng chị. Rồi ông nằm xuống, chậm rãi:


- Tôi ở đây được hơn tuần rồi. Tôi cũng rất thích biển...


Câu chuyện bâng quơ của ông Hậu và người đàn bà mới quen về sóng nước mây trời, về những miền đất vừa lạ vừa quen mãi đến khi nắng lên cao. Người tắm biển đã thưa dần. Ông muốn làm một cử chỉ gì đó để cảm ơn cuộc gặp gỡ ngoài sự mong đợi.


- Tôi mời mẹ con cô dùng bữa sáng !


Chị nhìn ông, đôi mắt ánh lên một niềm vui không giấu giếm:


-  Em cảm ơn anh...! Anh cho mẹ con em mời anh...


Mắt ông vụt sáng, ông nhún vai:


-  Thế cũng được... Nhưng chỉ lần này thôi nhé...


Chị mặc quần áo cho con, cùng ông trở lại khách sạn.


                                                                           *** 


Những người khách ở trong cùng khách sạn coi nhau như người trong một nhà. Họ dễ dàng thân nhau qua những bữa cà phê sáng hay ly rượu khuya. Ông và chị là hai người được cả khách sạn đặc biệt chú ý. Cô tiếp tân, mỗi khi thấy ông trong bộ quần áo thể thao sáng sáng ra biển, nói đùa:


- Cháu thấy hình như bác trẻ ra...


Ông Hậu như cũng cảm thấy điều đó. Buổi sáng đầu tiên, ông khó nhọc mà vẫn không bơi theo kịp chị. Buổi sáng thứ hai, ông thuê một chiếc phao. Khi bơi ông đẩy chiếc phao đi trước. Đến lúc mệt, ông bám vào phao để nghỉ. Chị trên đường bơi vào cũng bám nhờ phao ông. Sang buổi sáng thứ ba, hai người níu vào phao bơi ra tít ngoài xa. Ông nói với chị bằng tất cả lòng chân thành:


- Tôi thương thằng bé lắm!


Chị lặng người. Thằng bé, nỗi đau đeo bám chị. Một vết thương chẳng bao giờ thành sẹo. Chị nói với ông, giọng trầm buồn:


-  Cháu là đứa thứ hai của em. Đứa đầu sinh ra em không được thấy mặt vì lúc đó em kiệt sức, sau này em mới biết cháu không được lành lặn bình thường...

 

 

 

Như người sợ sóng, chị bám chặt vào phao, thở:


- Trước em sống trong vùng bị thả thuốc khai quang. Em còn may mắn hơn bà chị ruột kế em là em còn có bé Bi. Chị ấy hai lần sinh là hai lần không dám nhìn mặt con...


Chị buông phao, ngửa người, trôi lờ đờ như một cái xác. Ông lặng nhìn chị và đẩy chiếc phao hướng về phía chị. Ông đã nghe đã thấy điều khủng khiếp ấy qua phim ảnh qua báo chí còn đây là lần đầu ông được thấy nỗi đau từ mắt từ môi từ gương mặt từ thẳm sâu tâm hồn của một người đàn bà đẹp và bất hạnh. Cuộc chiến tranh đi qua đã gần ba mươi năm nhưng hậu quả của nó còn kéo dài không biết đến bao giờ. Nên, dù ông có an ủi chị bằng cách nào cũng không thể làm chị nguôi ngoai. Còn chị, hình như không kìm nén được cái nhu cầu muốn được chia sẻ, chị đưa tay cho ông nắm rồi vòng tay vào chiếc phao thở một hồi rồi tiếp:


- Chồng em đã không chịu đựng những cú sốc liên tiếp và cũng không chịu được sự ngây dại của thằng bé, anh ấy muốn... - chị dừng lại như nghẹn lời, hồi lâu mới nói tiếp - Em đã không thể chấp nhận nên đành phải chia tay, dù biết cái lỗi ở anh ấy chỉ là không đủ lòng yêu thương...


Những giọt nước mắt trên khuôn mặt chị được nắng sớm chiếu vào, long lanh như những hạt ngọc trên má. Như để trút đi nỗi cay đắng của mình, chị thả phao, bơi tiếp ra xa. Nước mắt hòa vào nước biển. Chị bơi về phía mặt trời đang ngày một lên cao. Ông cũng buông phao, bơi theo chị. Chiếc phao bồng bềnh trên sóng. Mãi khi chạm được vào người chị, ông nhô lên khỏi sóng, nói:


- Ta vào đi, em!


Chị ngỡ mình nghe nhầm. Tiếng "em" thoảng trong tiếng sóng. Nhưng chị lại nghe rất rõ. Từ ngày chia tay chồng, đây là lần đầu tiên chị nghe được một tiếng "em" gần gũi, thân thương đến thế. Chị thấy tim mình đập mạnh. 


                                                                             ***


Khách sạn tổ chức cho khách thăm khu rừng nguyên sinh. Ông và chị dắt bé Bi đi cùng. Suốt gần hai tuần nay, ba người họ đi đâu cũng có nhau. Trong khoảng rừng lốm đốm những chấm nắng tròn, ông và chị ngả mình trên thảm cỏ. Trong tay chị là một chùm hoa dại ông hái ven đường. Trong không gian tĩnh lặng ấy, ông bộc bạch đời  mình với chị. Hơn hai mươi năm trước, vợ con ông đã bị vùi dưới đại dương trong một chuyến vượt biên. Ông cô đơn nơi đất khách quê người. Lần này về thăm quê, những người ruột thịt gần gũi ông, người chết già kẻ chết bệnh, số còn lại theo con theo cháu sinh sống tản mát nhiều nơi. Ông có gặp vài người bạn nhưng tình thân cũng không giữ ông được bao lâu. Ông sợ cái cảm giác làm người khách trong ngôi nhà lạ. Ở khách sạn ông cảm thấy thoải mái hơn, tuy niềm vui mà ông có được chỉ là cái tạm bợ, thoáng qua, niềm vui của kẻ không cần cho ai và cũng không mong chờ ai, yêu thương ai. Rồi bất ngờ ông gặp chị. Như kẻ bơi kiệt sức, chỉ còn biết phó mặc cho dòng trôi thì với được chiếc phao. Và ông cho đó là một cuộc gặp gỡ định mệnh. Chị cảm động đặt bàn tay đã có những chấm đồi mồi sẫm nâu của ông vào bàn tay nhỏ nhắn của mình:


-  Em cũng cảm thấy thế...


Ông ôm chị vào lòng, vuốt lên mái tóc đã có một vài sợi bạc của chị:


-  Đúng là Trời Phật cho anh gặp em...


Lần đầu tiên, hai người hôn nhau trước mặt thằng bé. Nó níu áo chị rồi ôm lấy chân ông. Chị buông ông ra, ngồi thụp xuống, ôm con vào lòng. Chị khóc. Ông cũng không cầm được nước mắt. Chỉ có thằng bé ngây ngô không biết gì cứ nhoài người vùng ra khỏi vòng tay của mẹ rồi ngồi bệt xuống đất, đưa tay chỉ trỏ những cánh bướm mong manh bay chấp chới trên ngọn cỏ.


Tình yêu làm ông Hậu trẻ lại. Sáng sáng, ông và chị dắt thằng bé ra biển từ lúc còn rất sớm. Ông và chị bơi ra xa, khi màu hoa huệ của bình minh còn chưa chuyển thành màu hồng. Họ là những người bơi xa nhất, chứng kiến sự chuyển đổi sắc màu kỳ diệu của đất trời. Với ông, dường như càng bơi xa về phía mặt trời, ông càng thấy khỏe ra, và cũng chưa lúc nào ông khao khát mình được trẻ hơn, khỏe hơn như lúc này.


Khi quay lại, tràn trề niềm vui, ông moi bắt những con còng bỏ vào túi nhỏ mang theo, sửa sang bồi đắp tòa lâu dài bị sạt lở và kiên trì tập cho thằng bé quen nước, quen sóng. Cuối cùng sự kiên nhẫn của ông được đền bù. Thằng bé không còn sợ nước và bắt đầu đùa nghịch với những con sóng tràn lên bãi cát. Dần dần, nó dạn dĩ lên, biết đưa cả hai tay nắm lấy tay chị, tay ông và kéo cả hai người chạy ào xuống biển.


                       
                                                                              ***


Ông Hậu đưa hai mẹ con người phụ nữ về nơi chôn nhau cắt rốn của mình tận vùng cát cháy Điện Bàn. Ông bà họ mạc chỉ còn trong lờ mờ ký ức với những nấm mồ rải rác nằm dọc theo sườn đồi còi cọc cỏ cây và oi ả nắng. Rồi ông theo chị về miệt rừng đước U Minh, nơi chị sinh ra và lớn lên với biết bao kỷ niêm còn lưu giữ. Ký ức tuổi thơ nhọc nhằn của chị càng khiến ông yêu thương và muốn bù đắp thật nhiều cho chị. Chị còn đưa ông xuống tàu ra tận Hòn Khoai, một hòn đảo xanh tươi giữa mênh mông trời nước mà lần đầu ông đặt chân tới. Ông cúi xuống dòng suối trong ngần, đưa tay bụm một bụm nước ngọt mát rượi kề môi uống cạn. Ông bụm một bụm nước nữa, cho chị... Cả hai cứ lặng đi vì hạnh phúc, ngỡ như mình lạc vào xứ sở thần tiên với dòng suối, tiếng chim, bóng cây, mây trời và tiếng rì rầm của sóng.


Trước khi ông lên máy bay trở về nơi đang định cư, họ quay trở lại khách sạn ven bờ biển, nơi định mệnh cho hai người gặp nhau. Một tối, ông ngồi với chị khá lâu trong nhà ăn. Chị uống hơi nhiều và rất vui. Niềm vui lây sang ông. Lây sang cả những người bạn chung quanh.


Chị ghé sát tai ông, thì thầm một điều gì. Mắt ông sáng lên, hấp tấp hỏi lại:


- Chắc chớ em? Chắc chớ em...?


Chị gật đầu. Ông kéo chị vào lòng, ngồi lặng đi...


Trên chiếc giường êm, ông trằn trọc, không sao chợp mắt. Ông sẽ có con. Một đứa con an ủi tuổi già. Có mơ ông cũng không tưởng nổi có được hạnh phúc này. Ông kéo chị  sát vào mình và ôm thật chặt: "Anh biết ơn em! Em với con là tất cả...". Chị bịt miệng ông bằng những nụ hôn.


Khi buông nhau ra, chị chợt nghe tiếng ngáy đều đều của bé Bi bên cạnh. Chị nhìn sang con. Dưới ánh sáng hồng hồng của chiếc đèn ngủ, gương mặt ngây ngô của thằng bé trông thật đáng thương. Chị quay lại ông: 

  
- Lỡ em lại sanh ra một đứa con giống như bé Bi...?


Không chút nghĩ ngợi, ông trả lời ngay:


- Thì mình sẽ nuôi nó như nuôi anh của nó!


-  Nhưng như thế em lại đặt lên vai anh một gánh nặng..


-  Anh đủ sức gánh mà, em!


Buổi sáng, chị dắt con cùng ông ra biển. Ông và chị để bé Bi ngồi nghịch cát. Hai người bơi ra xa. Phía đông, vầng sáng màu hồng đã thay cho màu hoa huệ. Chị vẫn bơi cạnh ông. Khi dừng lại nghỉ lấy hơi, chị nói với ông:


- Lỡ em lại sanh một đứa con không lành lặn hay đần độn...


Ông lấy bàn tay vuốt tràn nước biển mặn lên gương mặt buồn thiu của chị:


- Thì mình cũng chăm sóc nó...


- Nhưng nó sẽ khổ suốt đời...


Chị buông phao, lặng lẽ bơi đi, bơi trước ông. Mặt trời bắt đầu nhô cao. Trước mắt chị, những đốm nắng long lanh trên mặt sóng. Ông bơi theo, nhưng không theo kịp chị. Giữa hai người là một khoảng cách. Khoảng cách đó như mỗi lúc mỗi kéo dài ra. Và biển mênh mông đang nối liền chân trời mờ mờ trước mặt. Ông vừa bơi vừa gọi:


-  Đừng ra xa nữa em, bơi vào đi...!


Chị như không nghe thấy, cứ tiếp tục bơi. Chỗ ông dừng lại cách bờ đã khá xa. Ông lo lắng khi thấy chị vẫn bơi. Ông gọi to:


- Em ơi, bơi vào đi...!


Chị vẫn sải tay bơi. Từ xa, ông cảm giác như chị sắp chạm phải mặt trời chói lòa trước mặt.


Trước mắt chị, biển chao nghiêng. Qua lớp sương mỏng được nắng chiếu vào, chiếc cầu vồng của quá khứ đột ngột hiện ra. Chiếc máy bay thả khói trắng lên Làng rừng, nơi gia đình chị và bà con làng rừng sống xúm xít bên nhau. Chị, cô bé mười hai tuổi sấp ngửa chạy theo cha mẹ anh chị, chạy theo cả làng, chạy về phía cánh rừng bạt ngàn trước mặt, vừa chạy vừa ho, ho sặc sụa, ho sưng vù mặt mũi... Chị cứ chạy, cắm đầu cắm cổ chạy cho đến khi gặp đứa con mà chị chưa bao giờ thấy mặt, trầy trụa thiếu tay thiếu mũi đứng ngay trước mặt và mở miệng lắp bắp gọi mẹ. Rồi thằng bé Bi ngô nghê nhăn mũi cười thành tiếng và đứa trẻ mới sinh còn đỏ hỏn cũng mang vẻ mặt vừa dị thường vừa đần độn của hai thằng anh của nó. Ba núm ruột máu mủ, ba đứa con tật nguyền của chị ngăn trở chị và kéo chị xa, thật xa.


Ông hốt hoảng, gào lên:


- Cứu... cứu với...! Có người sắp chết đuối! Cứu...


Chị ngoi lên, ngụp xuống. Hình ảnh những đứa con trĩu nặng như những quả chì cứ kéo chị xuống...


Dồn hết sức lực và yêu thương, ông bơi về phía chị. Mặt trời chói lòa trước mặt.


Bích Ngân

 

 

 

 

Nguồn:

Đã đăng trên báo điện tử ThanhNien online (thanhnien.com.vn)

&

http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n2nvn2n4n31n343tq83a3q3m3237nvn

 

 

 

 

 

Đưa lên web.:

19-12 HB6 (2006)

 

 

              Trở về trang ngỏ & mục lục trang của những người cùng thời / 1asphost 

http://c.1asphost.com/TrXuan An/an/trangcnncthoi/trangcnncthoi.htm

hoặc:

Trang ngỏ & mục lục của tuyển tập thơ - văn - luận của những người cùng thời / Google

http://www.tranxuanan-trangcnncthoi.blogspot.com

 

 

(  xem tiếp văn của những người cùng thời -- trang 5  )

 

 

 

 

 

 

.

CÁC TÁC GIẢ CÙNG THỜI TỰ GIỮ BẢN QUYỀN

E-mail: tranxuanan_vn@yahoo.com

Ngày khai trương

trang này:

12 - 3 HB6 ( 2006 )

Cập nhật 12/23/06 

(tháng / ngày / năm)                                                                  

 

   Trở về trang chủ

   (Web. Trần Xuân An)

 

 http://www.tranxuanan-writer.blogspot.com

   (Web. Tác phẩm Trần Xuân An)

.

 

 

 

 

 

 

CHÂN THÀNH CẢM ƠN 

Docs.Google.com / HOST, 1asphost.com / HOST

& Yahoo, MSN. search

 

 

Nobody have permission for editting this document.

Thank you.

      

 

Google Docs & Spreadsheets -- Web word processing and spreadsheets.

_________________________________________________________________________________________________

Trở về

trang bài mới -- sách mới -- tin tức mới: 

 

http://tranxuanan.writer.2.googlepages.com/baimoi-sachmoi-tinmoi-1.htm

http://tranxuanan.writer.googlepages.com/baimoi-sachmoi-2

 

trang "Những trang mục trên 'Web Tác giả Trần Xuân An'":

http://tranxuanan.writer.googlepages.com/webtacgiatranxuanan

 

trang chủ "Web tác giả Trần Xuân An":

 

http://tranxuanan.writer.googlepages.com

 

hidden hit counter

Google page creator  /  host

DOTSTER, MSN. & YAHOO ...  /  HOST, SEARCH & CACHE  
 

    lên đầu trang (top page)   

 

 

Comments